Ai là tác giả chữ 卐? Tìm hiểu nguồn gốc và ý nghĩa của biểu tượng

Ai là tác giả chữ 卐? Tìm hiểu nguồn gốc và ý nghĩa của biểu tượng

Bí ẩn khoa học Khoa học Khoa học đời sống Sự kiện trong tuần Văn hóa Xã hội

Trong kinh Phật, chữ 卐 (vạn) được coi là tiêu chí “cát tường” (tốt lành), là 1 trong 32 tướng của Phật – tức tướng “cát tường hải vân”.

Ngoài ra, trong các kiến trúc Phật giáo, các đồ dùng của nhà Phật, chữ “vạn” được chọn làm hình vẽ trang trí. Do đó, chữ “vạn” còn là biểu tượng của văn hóa Phật giáo. Thế nhưng…

Thực ra, cách phát âm của dạng tự này đã tùng gây tranh luận trong lịch sử học thuật. Sau khi Phật giáo du nhập vào Trung Quốc, do nhiều dịch giả bất đồng trong phương pháp phiên dịch, nên việc dịch âm của chữ cũng khác nhau. Có khuynh hướng căn cứ vào nguồn gốc, đã trực dịch âm của chữ là “thất lợi sai lạc sát năng”. Vào thời Bắc Ngụy, khi phiên dịch Thập địa kinh luận, Phổ Đề Lưu Kỳ “ý dịch” chữ là “vạn” (chữ Hán là 77 ). Nhưng các bậc thầy lỗi lạc về lãnh vực dịch kinh Phật là Cưu Ma La Thập và hòa thượng Huyền Trang khi dịch Nghiêm hoa kinh và Vô lượng nghĩa kính – 2 tác phẩm kinh điển của nhà Phật – đều dịch là “đúc”, hoàn toàn khác với Phổ Đề Lưu Kỳ.

Do kinh Phật cơ bản ở Ấn Độ – khởi nguyên của Phật giảo – sớm bị phá hủy, Phật điển không còn nguyên trạng, điều đó không thể xác chứng. Giới học thuật hiện nay đọc chữ là “vạn” do căn cứ theo tài liệu Phiên dịch danh nghĩa tập đời Tống. Theo lý lẽ thông thường, chữ “vạn” từ Ấn Độ du nhập Trung Quốc. Dĩ nhiên đây là độc sáng của Phật giáo Ấn Độ. Thế nhưng trên thực tế, quyền sáng tạo chữ “vạn” ấy có nhiều tranh chấp phức tạp. Trước hết vào đời Tống, khi biên tập và tăng bổ Phiên dịch danh nghĩa tập, các tăng nhãn ghi chú: “Vào thời đại Chu năm Trường thọ thứ 2, chúa thượng chế ra chữ 卐, âm là “vạn, chỉ cát tường vạn đúc”.

Chữ vạn được khắc giữa ngực tượng Phật

Như vậy, các tác giả này khẳng định chữ “vạn” là sáng chế của Võ Tắc Thiên. Trên thực tế, Võ Tắc Thiên là người sùng thượng Phật giáo, từng ngụy tạo kinh Phật và sáng chế nhiều chữ mới. Nhưng trước khi vị nữ hoàng đế này lên ngôi, từ đời Hán, Phật giáo đã du nhập Trung Hoa; và chữ 卐 đã có mặt trong các bản dịch kinh Phật. Dĩ nhiên, giả thuyết này hoàn toàn thiếu căn cứ khoa học. Năm 1980, tại huyện Dân Hòa, tỉnh Thanh Hải (Trung Quốc), các nhà khảo cổ đã khai quạt được nhiều văn vật cổ. Trong số đó có một bình gốm sứ cổ cao, chung quanh được bố trí 4 hình vẽ chữ 卐 bằng nhau với nét vẽ nghiêng, bên ngoài có vòng tròn với đường nét rõ ràng, chứng tỏ trình độ nghệ thuật cao.

Hiện nay cổ vật này được lưu trữ ở sở nghiên cứu văn vật Thanh Hải. Qua khảo chứng và suy đoán các chuyên gia khảo cổ cho biết chiếc bình trên là sản phẩm của thời đại đồ đá mới, cách nay khoảng 6-7.000 năm. Chữ 卐 là dấu vết chứng tỏ tổ tiên chúng ta đã sùng bái một vị thần nào đó hoặc một vật trong totem giáo. Ngoài ra, trong nhiều di chỉ khai quật ở Cam Túc, Thanh Hải, Quảng Đông, Nội Mông, nhiều văn vật được tìm thấy thuộc thời đồ đá mới đều có đồ án hình chữ “vạn”. Hơn nữa, khi khai quật một ngôi mộ cổ thời Chiến quốc, các nhà khảọ cố đã phát hiện nhiều tiêu chí khắc hình các ngôi sao trên bầu trời.

Trong đó, phù hiệu hình chữ 卐 là tiêu chí của sao Chổi. Mặc dù các hình vẽ hoặc phù hiệu này có khác nhau về trình độ tinh mỹ hay thô sơ đơn giản nhưng đại thể mô hình thì giống nhau. Điều đó chứng minh phù hiệu chữ đã sớm xuất hiện ở Trung Quốc, trước khi Phật giáo ở Ấn Độ du nhập vào Trung Quốc. Trên những chứng cứ này, quyền tác giả chữ 卐 thuộc về cổ dân Trung Hoa! Thế nhưng, cuộc tranh chấp học thuật chưa dưng lại ở đó. Bởi vì, nhiều học giả trên thế giới đã nhiều lần phát hiện phù hiệu hình chữ 卐 trong nhiều di chỉ cổ ở Ấn Độ, Ba Tư (nay là Iran), Hy Lạp.

Phát hiện phù hiệu chữ vạn tồn tại 12.000 năm trước

Họ lập luận rằng đây có thể là một loại phù chú hoặc tiêu chí tôn giáo thuộc các nền văn minh cổ của các quốc gia trên, thường được xem là biểu tượng của mặt trời hoặc lửa. Điều kỳ lạ là các phù hiệu này rất giống với các phù hiệu được phát hiện ở Trung Quốc. Từ đó, lại phát sinh một nghi án mới về quyền sáng tạo chữ “vạn”. Không ai chịu nhường ai và vấn đề này trở thành một bí ẩn của nhân loại. Dựa trên các tình huống đó, có người đề xuất nghi vấn: Vào thời viến cổ, giao thông chưa phát triển, thông tin bế tắc, các nền văn hóa quần thể của loài người còn xa nhau “thiên sơn vạn hải”.

Thế thì làm sao lại có thể sáng tạo được phù hiệu hình chữ 卐 có tính tương đồng và phổ biến như thế? Trong công trình Khởi nguyên của các vị thần, ở phần mở đầu, chuyên gia Dương Hy Mục phát biểu: “Các nét hoa văn chữ (á) trên các đồ dùng đời Ân Thương là một loại phù hiệu 2 nét của chữ 十 (thập). Nó có quan hệ với phù hiệu hình chữ 卐. Cả hai là ký hiệu biểu diễn chân lý động -tĩnh của mặt trời và của vũ trụ. Từ xuất phát điểm đó, học giả Khuất Truy nhận định: Trong thời kỳ mông muội, trình độ văn minh của loài người cùng ở mức khởi hành, phù hiệu chữ 卐 và phù hiệu chữ 卐 dần dần hình thành như hai tiêu chí để biểu thị văn hóa Phật giáo phương Đông cổ đại và văn hóa Cơ đốc giáo phương Tây.

Ý kiến này lập tức được Đổng Hạ – người trứ tác Truyện Chu Mục Vương – hưởng ứng. Tiến thêm một bước, nhà nghiên cứu Đổng Hạ giải thích: Chữ 卐 rất có khả năng không phải là sáng tạo riêng của một khu vực, một quốc gia mà là công trình tổng hợp của nhân loại, được định hình và được hoàn thiên qua lịch sử lâu dài. Đó là sản phẩm kết tinh từ nền văn minh cổ phương Đông và phương Tây. Vào thời Tây Chu, mặc dù xã hội nô lệ còn lạc hậu, Chu Mục Vương vẫn có ý thúc “viễn bộ” đến các quốc gia phương Tây, đến tận Babylone, Ba Tư. Vì thế rất có khả năng chữ “vạn” truyền đến các khu vực trên trong thời kỳ này hoặc ngược lại.

Rốt cuộc, các học giả vẫn không thể trao quyền sáng tạo chữ “vạn” cho cá nhân hay dân tộc nào được. Và hiện nay “Ai là tác giả chữ 卐 (vạn)?” vẫn còn là một ẩn số.

Nguồn tổng hợp