Ảnh hưởng của thơ nước ngoài vào trong thơ ca Việt Nam

Ảnh hưởng của thơ nước ngoài vào trong thơ ca Việt Nam

Giải trí Giáo dục Góc học tập Sự kiện trong tuần Văn hóa Văn học Xã hội

Nước Việt Nam ta bị nội thuộc Trung Hoa cả ngàn năm rồi bị Pháp đô hộ tám mươi năm. Hai nước ấy có nền văn học lâu đời và rất cao nên văn thơ ta chịu ảnh hưởng của họ cũng không phải là chuyện lạ.

Về sau này, do mối bang giao quốc tế ngày càng rộng mở nên ta còn chịu ảnh hưởng ít nhiều của nền văn học Nhật Bản, Anh, Mỹ và Liên Xô nữa. Điều đáng quí là tổ tiên ta đã biết chắt lọc tinh hoa văn học nước ngoài đưa vào thơ văn ta, biến cái của người thành của mình mà rất tự nhiên, không gượng ép, khiến độc giả nhiều khi không biết là rút từ văn học nước ngoài. Điều đó đã làm phong phú và sinh động thêm nên văn học nước nhà. Người sử dụng tài tình nhất ý tứ trong thơ nước ngoài để dựa vào thơ Việt phải nói là đại thi hào Nguyễn Du. Trong cuốn Đoạn trường tân thanh có rất nhiều những câu thơ như vậy. Xin nêu ra đây vài ví dụ ảnh hưởng của thơ nước ngoài vào trong thơ ca Việt Nam

Nàng Kiều, sau buổi chiều đi chơi thanh minh gặp mộ Đạm Tiên, đêm về nằm mơ thấy Đạm Tiên hiện lên thử tài làm thơ của nàng và cho biết Kiều có tên trong sổ Đoạn trường. Lúc tỉnh dậy nàng buồn rầu khóc than khiến mẹ nàng phải hỏi:

“Cớ sao trằn trọc canh khuya,

Màu hoa lê hãy đầm đìa giọt mưa”

Đó là Nguyễn Du lấy ý từ hai câu thơ trong bài Trường hận ca của Bạch Cư Dị đời Đường:

Ngọc dung tịch mịch lệ lan can,

Lê hoa nhất chi xuân đới vũ.

Ảnh hưởng của thơ nước ngoài vào trong thơ ca Việt Nam - Ảnh 1

Nghĩa là: mặt ngọc u hoài, nước mắt chứa chan như cành hoa lê đầm đìa hạt mưa xuân (Nét rầu hàng lệ lâm ly, Hạt mưa gieo nặng cành lê não nùng). Khi Kiều trốn khỏi nhà Hoạn Thư, canh khuya thân gái dặm trường, chưa biết đi về đâu, Nguyễn Du viết:

Mịt mù dặm cát đồi cây,

Tiếng gà điếm nguyệt, dấu giày cầu sương

Là mượn ý hai câu trong bài Thương sơn tảo hành của Ôn Đình Quân đời Đường:

Kê thanh mao điểm nguyệt,

Nhân tích bản kiều sương.

Nghĩa là: tiếng gà gáy ở điếm cỏ có bóng trăng chiếu vào, bước chân của người đi để lại dấu vết trên cầu gỗ ướt sương. Tả cảnh người đi đường lúc đêm khuya. Hai câu thơ của Nguyễn Du còn tả được nỗi lo sợ của nàng Kiều: nghe tiếng gà gáy sợ trời sáng, và thấy dấu chân người sợ có kẻ đuổi theo.

Khi Kim Trọng về Liêu Dương chịu tang chú, nửa năm sau trở lại thì Kiều đã bán mình chuộc cha, gia đình Vương ông sa sút phải dời nhà đi nơi khác cho nên: Trước sau nào thấy bóng người,

Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông

Viết hai câu này, Nguyễn Du đã mượn ý trong bài thơ Đề tích sở kiến xứ (Đề chỗ gặp gỡ ngày trước) của Thôi Hộ đời Đường:

Nhân diện bất tri hà xứ khứ,

Đào hoa y cựu tiếu đông phong.

Nghĩa là: mặt người naỵ chẳng biết đi đâu, (chỉ còn) hoa đào vẫn cười với gió đông như cũ (Dung nhan nay biết tìm đâu thấy, Chỉ thấy hoa cười với gió đông).

Trong Cung oán ngâm khúc, khi tả nhan sắc người cung nữ, Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều đã viết:

Đoá lê ngon mắt cửu trùng,

Tuy mày điểm nhạt nhưng lòng cũng xiêu.

Tác giả đã mượn ý thơ của Bạch Cư Dị và Trương Hựu đời Đường. Chữ “đoá lê” lấy ý trong câu thơ “Lê hoa nhất chi xuân đới vũ” của Bạch Cư Dị đã nói ở trên; còn câu “tuy mày điểm nhạt nhưng lòng cũng xiêu” là do thơ của Trương Hựu trong bài Tập Linh đài (Đài Tập Linh) vịnh bà Quắc quốc phu nhân (chị ruột của Dương Quí phi) có sắc đẹp tự nhiên, không cần son phấn, khi vào chầu vua chỉ vẽ một nét mực nhạt ở đôi mày là đủ đẹp lộng lẫy khiến vua phải sững sờ: Khước hiềm chi phấn ô nhan sắc, Đạm tảo nga mi triều chí tôn. nghĩa là: chỉ ngại son phân làm hoen ố nhan sắc, nên chỉ vẽ sơ đôi mày vào chầu vua (Phấn son ngại giảm phần nhan sắc, Kẻ nhạt mày hoa trước cửu trùng).

Trong truyện Hoa Tiên, Nguyên Huy Tự viết:

Một mai vội gióng Dương Quan,

Diện từ xin giãi niềm đan mấy lời

Là lấy ý thơ của Vương Duy đời Đường trong bài “Tống Nguyên Nhi sứ An Tây” (Tiên đưa Nguyên Nhị đi sứ An Tây):

Khuyến quân cánh tận nhất bôi tửu,

Tây xuất Dương Quan vô cố nhân

Nghĩa là: mời anh uống cạn thêm chén nữa (vì) đi vê phía tây, ra khỏi Dương Quan sẽ không có ai là bạn cũ nữa đâu (Chén này xin hãy cùng nhau cạn, Chốn ấy Dương Quan ai cố nhân).

Về sau, nhiều nhà nho khác của ta cũng mượn ý trong thơ Trung Hoa để viết nên những câu thơ đặc sắc. Cụ Phan Khôi (1887-1959) đã viết bài Nắng chiều như sau:

Nắng chiều tuy có đẹp,

Tiếc tài gần chạng vạng

Mặc dù gần chạng vạng,

Nắng được thì cứ nắng.

Ảnh hưởng của thơ nước ngoài vào trong thơ ca Việt Nam - Ảnh 2

Bài này chịu ảnh hưởng bài thơ Đăng Lạc Du Nguyên (Lên Lạc Du Nguyên) của Lý Thương Ẩn đời Đường:

Hướng vãn ý bất thích,

Khu xa đăng cổ nguyên.

Tịch dương vô hạn hảo,

Chỉ thị cận hoàng hôn.

Trần Trọng San dịch:

Chiều hôm lòng buồn bã,

Đi xe lên cổ phần.

Nắng chiều đẹp vô hạn,

Chỉ tiếc sắp hoàng hôn.

Cụ Trúc Khê Ngô Văn Triện (1901 – 1947) có bài thơ Thăm vườn cũ in trong thi tập Hồn quê (1928) và tập Chợ chiều (1942):

Xa cách năm hầu nửa,

Vườn xưa lại dạo qua.

Cây không vì vắng chủ

Lần lượt vẫn khai hoa.

Bài này mượn ý bài Sơn phòng xuân sự (Cảnh xuân ở nhà trên núi) của Sầm Tham đời Đường mà hai câu cuối là:

Đình thụ bất tri nhản khứ tận,

Xuân lai hoàn phát cựu thời hoa.

Nghĩa là: cây cối ở sân không biết người nhà đã đi hết nên mỗi khi xuân đến vẫn cứ nở hoa như xưa. (Cây sân chẳng biết người đi hết, Xuân đến hoa xưa vẫn nở đều). Chỗ khác nhau là Sầm Tham trách cây vô tình, người chủ yêu hoa đã đi rồi mà vẫn nở hoa, còn Trúc Khê thì bào chữa cho cây, không vì chủ đi vắng mà quên nhiệm vụ nở hoa. Đến các nhà thơ tiền chiến cũng thế. Huy Cận từng nhìn nhận rằng khi viết hai câu:

Lòng quê dợn dợn vời con nước,

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà

Trong bài Tràng giang, ông đã chịu ảnh hưởng hai câu thơ trong bài Hoàng Hạc lâu của Thôi Hiệu:

Nhật mộ hương quan hà xứ thị?

Yên ba giang thương sử nhân sầu.

(Quê hương khuất bóng hoàng hôn,

Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai – Tản Đà dịch).

Chỗ khác nhau là Thôi Hiệu thấy khói sóng trên sông thì nhớ nhà, còn Huy Cận vì lòng nhớ nhà mạnh hơn nên “Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”.

Về ảnh hưởng của thơ Pháp, khi Xuân Diệu viết:

Yêu là chết ở trong lòng một ít trong bài thơ Yêu, ông đã lấy ý gần trọn câu của nhà văn Pháp Roland Dorgelès đề trên trang đầu cuốn phóng sự hồi ký Sur la route mandarine.

Partir c’est mourir un peu (Đi là chết một ít)

Xuân Diệu chỉ đổi động từ “Partir”(đi) thành “Aimer”

(Yêu) mà thôi. Chính Xuân Diệu cũng đã từng nhìn nhận điều này. Còn Vũ Đình Liên khi viết bài thơ Ông Đồ đã chịu ảnh hưởng của cả thơ Trung Hoa lẫn thơ Pháp.

Ảnh hưởng của thơ nước ngoài vào trong thơ ca Việt Nam - Ảnh 3

Trả lời câu hỏi của Lê Xuân Sơn, Vũ quân nói:

– Nó (hoa đào) nở ra từ chính câu thơ của Thôi Hộ “Đào hoa y cựu tiếu đông phong” đã được Nguyễn Du Việt hoá một cách tài tình thành “Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông”. Trong máu mỗi nhà thơ Việt Nam, đặc biệt ở giai đoạn đó, đều có một chút thơ Đường.

Vũ quân lại còn cho biết bài Ông Đồ cũng chịu ảnh hưởng thơ Pháp. Khổ thơ cuối cùng của bài Ông Đồ mang nỗi buồn mênh mông của tứ thơ Francois Villon. Ông nói:

– Nhà thơ Pháp thế kỷ XV Francois Villon có làm một bài ballade Những bà mệnh phụ thời xưa (Ballade des dames du temps jadis), trong đó có những câu tạm dịch là:

Đừng hỏi những người phụ nữ cũ ấy bây giờ ở đâu,

Những người tài hoa son trẻ ấy tìm lại thế nào được.

Tuyết mỗi năm tan một lần,

Làm sao tìm lại được tuyết năm xưạ.

Đó là những câu thơ nổi tiếng bậc nhất trong thơ Pháp xưa và nay. Hai câu kết trong bài ông Đồ (Những người muôn năm cũ, Hồn ở đâu bây giờ) chịu ảnh hưởng từ thơ của Villon.

Nhắc đến nhà thơ tiền chiến Lưu Trọng Lư, không ai không biết bài thơ Tiếng thu của ông với hình ảnh “con nai vàng ngơ ngác”. Chính bài thơ này làm cho ông nổi tiếng và ông đã lấy nhan đề bài thơ làm nhan đề cho thi phẩm của mình. Lâu nay ai cũng nghĩ rằng bài thơ ấy hoàn toàn là sáng tác của ông, nhưng theo Nguyễn Vỹ trong cuốn Văn thi sĩ tiền chiến thì khi viết bài này, Lưu Trọng Lư đã chịu ảnh hưởng sâu xa bài thơ Tanka của Nhật Bản qua bản dịch tiếng Pháp. Bài thơ Tanka nổi tiếng ấy như sau:

Oku yama ni

Monoji fumi wake

Naku shika no

Koe kiku toki zo

Aki wa kanashiki

Tác giả là Saramaru, thế kỷ thứ VIII. Cũng theo Nguyên Vỹ thì Michel Revon đã dịch bài thơ này ra Pháp văn, in trong quyển Anthologie des poètes japonais (Thi tuyển của những nhà thơ Nhật) (Nhà xuất bản Hachette – Paris). Bản dịch như sau:

Combien triste est l’automne

Quand j’entends la voix

Du cerf qui brame

En joulant et dlspersant les feuilles des érables

Dans les protondeurs de la montagne. 

Karl Petit, trong quyển La poésie japonaise (Thơ Nhật – NXB Seghers) lại dịch đảo ngược lại, nhưng đúng theo nguyên văn bài thơ Nhật:

Aux profondeurs de la montagne

Ecartant et toulant les teuilles d’érable

Le cerf brame

Et à l’entendre ainsi

Ah! Que l’automne m’est lourdement triste!

Ảnh hưởng của thơ nước ngoài vào trong thơ ca Việt Nam - Ảnh 4

Dịch ra thơ Việt:

Trong núi rừng sâu

Ta nghe tiếng xào xạc

Con nai vàng ngơ ngác

Đạp trên lá bàng khô.

Ôi buồn làm sao!

Và thơ Lưu Trọng Lư:

Em không nghe rừng thu

Lá thu kêu xào xạc

Con nai vàng ngơ ngác

Đạp trên lá vàng khô

Trong bản tiếng Pháp, chữ “brame” (do động từ bramer) có nghĩa là “kêu” hay “tác”, con nai kêu, con nai tác (le cerf brame) chứ không có nghĩa là “ngơ ngác”. Còn “ngơ ngác” là một từ rất hay do Lưu Trọng Lư sáng tạo nên.

Mặc dù vậy, từ mấy chục năm qua, tình cảm của quần chúng yêu thơ đôi với bài Tiếng thu vẫn không suy giảm bởi vì thi phẩm này giàu chất thơ, chất nhạc và chất trữ tình. Nhất là từ khi được phổ nhạc, bài thơ này lại chiếm được cảm tình rộng rãi của quần chúng yêu nhạc trong cả nước.

Nguồn tổng hợp