Bàn về ý nghĩa chữ ngu trong nghĩa chữ Hán của Trung Quốc

Bàn về ý nghĩa chữ ngu trong nghĩa chữ Hán của Trung Quốc

Giải trí Giáo dục Góc học tập Sự kiện trong tuần Văn hóa Văn học Xã hội

Nhưng theo nghĩa chữ Hán thì ngu không phải hoàn toàn có nghĩa như vậy, chả thế mà Trung Quốc có câu thành ngữ “đại trí nhược ngu”.

Khi nói đến chữ NGU (愚), ta thường liên tưởng đến những từ như ngu xuẩn, ngu đần… Xuẩn, đần chỉ những trường hợp kém trí tuệ hoặc ít dùng trí tuệ trong việc làm gây hậu quả không tốt. 

Ngu không phải là ngu

L iễu Tông Nguyên đời nhà Đường trong Bát ngu thi có bài “Ngu khê thi tự” ý tứ dạt dào, phóng khoáng; trong bài có 20 chữ ngu nối liền nhau, có nghĩa khác nhau. Chữ ngu có thể dùng trong xưng hô khiêm tốn, ví dụ: “ngu ý” hay “ngu kiến”. Thực ra đó chỉ là sự nhún nhường, có thể đó là một sáng kiến, một ý hay chứ không phải ý ngu. Chữ ngu là động từ có nghĩa là chơi khăm, đùa người khác trong một việc gì đó. Như vậy, ngu ở đây đâu có xuẩn, đần chút nào. Trong Lão Tử chương 65 có đoạn viết: “Cổ nhân thiện vi đạo giả, phi dĩ minh dân, tương dĩ ngu chi”; ý nói ờ thời cổ, những người thông hiểu đạo trị quốc không dạy người dân linh hoạt ứng xử mà lấy ngu để trị dân.

Chữ ngu ở đây hiểu theo nghĩa thuần phác, đôn hậu chứ không phải làm cho dân ngu để dễ trị như chúng ta thường nói về chính sách ngu dân. Nhiều người thông thái ở Trung Quốc thường đặt tên là Ngu. Ví dụ: giáo sư, nhà soạn kịch Tào Ngu với tác phẩm Lôi Vũ và nhiều tác phẩm nổi tiếng khác như Nhật xuất, Đồng nội, Người Bắc Kinh v.v. rất thích chữ ngu. Tên ông là Vạn Gia Bảo, nhưng bút danh ông đặt là Tào Ngu.

Bàn về ý nghĩa chữ ngu trong nghĩa chữ Hán của Trung Quốc - Ảnh 1

Chuyện Ngu Công dời núi

Truyền thuyết “Ngu Công di sơn” (Ngu Công dời núi) rất nổi tiếng, là một truyện rất thú vị trong Liệt Tử –  Thang vấn. Truyện như sau: Ngu Công cư trú tại núi Bắc. Tuổi ông đã đến cửu tuần. Nhưng thường ngày nhìn thấy hai ngọn núi Thái Bình và Vương Thất cao chót vót án ngự trước mặt làm ông cảm thấy rất khó chịu. Thế là ông quyết tâm dời hai ngọn núi này để cho việc đi lại thông thương, khỏi bị trở ngại. Ngu Công là người có chí cao, dám nói dám làm, không hề do dự. Thế rồi vào một ngày, ông dẫn con cháu lên núi, người đục đá, người đào đất và vận chuyển ra Bột Hải để đổ. Có người chế giễu Ngu Công làm những việc phí sức không đâu.

Ngu Công nói với họ, kế hoạch “di sơn'’ của ông phải nhiều đời thay nhau làm. Cha chết thì có con tiếp tục làm, con chết thì có cháu tiếp tục làm… “tử hựu sinh tôn, tôn hựu sinh tử, tử hựu hữu tử, tử hựu hữu tôn, tử tử tôn tôn, vô cùng quý dã” (Con lại sinh cháu, cháu lại sinh con, con lại có con, con lại có cháu, con con cháu cháu, vô cùng vô tận), nguồn lao động sinh sôi không bao giờ hết. Câu chuyên trên ca tụng chí khí của Ngu Công, làm một việc tưởng không làm nổi nhưng quyết chí thì ắt làm nên. Lập luận của Ngu Công cũng rất có logic, khó mà bắt bẻ được; bởi ông có kế hoạch lâu dài, đời này đời khác thay nhau làm, nhất định sẽ có ngày làm xong.

Như vậy Ngu Công đâu có ngu. Người Trung Quốc ca tụng Ngu Công là nhân vật tràn đầy tinh thần đấu tranh chống mọi trở ngại trên bước đường tiến lên. Ngày 11.6.1945, trong diễn văn bế mạc đọc tại Đại hội đại biểu Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ 7, chủ tịch Mao Trạch Đông đặc biệt ca tụng tinh thần “Ngu Công dời núi”. Ông giải thích: “hai quả núi Thái Bình và Vương Thất” đang đè lên đầu lên cổ nhân dân Trung Quốc, một “quả” là chủ nghĩa đế quốc, “quả” kia là chủ nghĩa phong kiến. Ông kêu gọi Đảng Cộng sản Trung Quốc hãy quyết tâm xúc đổ “hai quả núi” ấy, không ngừng kiên trì làm rồi thiên đế sẽ cảm động. Ông ví thiên đế là nhân dân Trung Quốc.

Đại trí nhược ngu

Trung Quốc có câu thành ngữ “Đai trí nhược ngu” (Đại trí như ngu) lấy từ “Hạ Âu Dương tu trí sĩ khởi” của Tô Thức đời Tống. “Đại trí nhược khiếp” (đại trí thường nhát gan), “Đại trí nhược ngu” ẩn chứa những ý sâu mà Tô Đông Pha nhận ra, nó có không gian giải thích rộng lớn. Từ góc đô triết hoc, bổn ý của “đại trí nhược ngu” có nguồn gốc từ Lão Tử. Nguyên bản trong chương 15 của Lão Tử là “đại thành nhược khuyết, kỳ dụng bất tệ; đại doanh nhược xung, kỳ dụng bất cùng; đại trực nhược khuất, đại xảo nhược chuyết, đại biện nhược nốt”.

Những câu trên có ý nói cái gì trọn vẹn nhất hình như có khiếm khuyết, nhưng tác dụng của nó không hề suy giảm, cái gì đầy đủ nhất hình như có trống rỗng, nhưng tác dụng của nó không hề cạn; chính trực nhất hình như có quanh co, linh xảo nhất hình như có vụng về, thiện biện nhất hình như vụng ăn nói. Những ý trên là tầng nấc cao thâm nhất trong triết học nhân văn của Trung Quốc. Do đó, chữ ngu trong “đại trí nhược ngu” ở đây không thể hiểu là ngu xuẩn được. Chương 20 trong Lão Tử có ghi: “Ngã ngu nhân chi tâm dã tai!” (tấm lòng ngu nhân của ta thái quá thay!).

Bàn về ý nghĩa chữ ngu trong nghĩa chữ Hán của Trung Quốc - Ảnh 2

Như vậy chữ ngu ở đây rõ ràng là ưu điểm. “Ngu” của thánh nhân là kết quả của sự tu dưỡng tự giác nên mới đạt đến đại trí và sáng tạo tinh thần. Bậc đại trí thì sự uyên thâm không lộ ra ngoài nên khó mà nhận ra, có thể gọi là giả tượng cũng được, nhưng trong xương tuỷ của họ là trí tuệ. Còn những người hay làm bộ khoe tài, khôn vặt, tính toán tư lợi chỉ là tiểu trí.

Phương Tây với Lễ hội người ngốc

Người phương Tây gọi người ngu là fool, cũng gọi là “người ngốc”. Hàng năm cứ đến ngày 1 tháng 4, họ tổ chức “Lễ hội người ngốc” (April Fool’s Day). Lễ hội này có xuất xứ ở Pháp từ năm 1582, bởi trước đó họ chúc mừng năm mới bắt đầu từ ngày 25.3 và liên tục trong 8 ngày cho đến ngày 1.4. Nguồn gốc của lễ hội này là sau khi dùng lịch cải cách Gregorian Calendar (tức Dương lịch hiện nay) thì ngày 1.1 trở thành ngày mở đầu năm mới, mọi người chúc mừng và trao quà đầu năm. Nhưng một số người thủ cựu thì phản đối. Họ vẫn lấy ngày chúc mừng năm mới vào ngày 1.4 và tặng quà cho nhau. Thái độ của những người cải cách là tìm cách bịp phái thủ cựu.

Cứ đến ngày 1.4, những người cải cách đưa quà đến tặng những người thủ cựu, nhưng là quà giả. Những người thủ cựu bị lừa và trở thành “người ngốc tháng 4” hoặc “cá mắc câu”. Từ đó, người ta mở hội 1.4 là để trêu chọc nhau trở thành phong tục của người Pháp. Đầu thế kỷ 18, lễ hội này được truyền sang Anh, sau đó sang Mỹ. Hàng năm, đến Lễ hội người ngốc, các gia đình đều đoàn tụ, họ dùng hoa thuỷ tiên hoặc hoa cúc trang trí trong nhà cho thật đẹp, nhưng cảnh thì trang trí như một tết khác, ví dụ: bố trí trong nhà thành khung cảnh đón lễ Noel hoặc đón năm mới, khi khách đến cũng chúc Noel vui vẻ hoặc chúc năm mới hạnh phúc làm cho mọi người đều cảm thấy rất vui.

“Tiệc cá” ngày 1.4 (ý nói là “cá cắn câu”) cũng rất thú vị. Thiệp mời tham dự tiệc dùng giấy gấp thành những con cá nhỏ nhiều màu sẳc. Trên bàn tiệc được trang trí bằng hai màu lục và trắng, ở giũa đặt một “cảng cá” và các “cân câu cá” được làm rất tinh xảo, mỗi “cần câu” được buộc bằng những dải đẹp làm quà tặng khách; hoặc làm các giỏ kẹo hình con cá, trong có nhiều kẹp cũng hình cá. Một món salad trên là lá cây hoa cự (tactuca satinva) rắc hồ tiêu màu lục, nhưng khi mở ra thì mới phát hiện dưới là rượu; một món nữa là “khoai tây chiên” nhưng ở dưới lại là những miếng bánh mì và nấm tươi, hoặc “thịt gà chiên” dùng thịt cua để ngụy trang v.v.

Điển hình nhất trong hoạt động lễ hội người ngốc là mọi người trêu chọc nhau thoả thích. Có người dùng sợi dây nhỏ buộc vào một túi tiền vứt chính giữa đường và cầm đầu dây nấp vào bên đường, chờ có người đến nhặt thì kéo ngay làm người nhặt chưng hửng. 

Nguồn tổng hợp