Các loại thực phẩm cần ăn kiêng với 18 nhóm bệnh khác nhau

Các loại thực phẩm cần ăn kiêng với 18 nhóm bệnh khác nhau

Ẩm thực Bệnh thường gặp Cây thuốc quý Đời sống Sức khỏe Y khoa

Tuy nhiên, mỗi loại bệnh, tùy theo tính chất của bệnh mà thầy thuốc sẽ hướng dẫn phải thực hiện ăn kiêng như thế nào cho phù hợp.

Ăn kiêng rất cần đối với đời sống con người. Tuy nhiên, không phải tất cả mọi người đều ăn kiêng, vì ăn kiêng đòi hỏi nhiều yếu tố không đơn giản, nhất là trong cuộc sống lao động quay cuồng hiện nay, vì công việc mưu sinh, vì giờ giấc bị hạn chế… khó có thể theo đuối được những thực đơn “ăn kiêng”. Vì vậy, chỉ có một số người cần phải ăn kiêng, đó là những người bệnh. Ăn kiêng rất cần đối với người bệnh. Việc ăn kiêng sẽ giúp họ giảm hoặc khỏi bệnh. Chúng tôi gạn lọc, giới thiệu một số cách ăn kiêng cho 18 loại bệnh khác nhau để độc giả tham khảo và sử dụng.

Ăn kiêng trong bệnh bướu cổ

Bệnh này thường do nội tiết tố tuyến giáp được tiết ra quá nhiều, nên trên lâm sàng có triệu chứng tuyến giáp trạng phì đại (bướu cổ), tim đập quá nhanh, thần kinh nhạy cảm, sút cân. Ăn uống của người bệnh này cần giàu nhiệt lượng, giàu vitamin và đủ hydrat các bon và protein. Tránh các loại thức ăn có tính kích thích, các loại rượu để không làm tăng thêm sự hưng phấn thần kinh của bệnh nhân; cần tránh làm buồn phiền giận dữ, giữ cho tình cảm được ổn định, lạc quan, để không có phản ứng kích thích xấu, có lợi cho khôi phục sức khỏe.

Các loại thực phẩm cần ăn kiêng với 18 nhóm bệnh khác nhau - Ảnh 1

Nếu chỉ là bướu cổ đơn thuần, kiêng ăn các loại rau thuộc họ chữ thập như cải canh, củ cải, vì ăn những thứ rau này sẽ sinh ra muối của acid sun-foxian có thể mau chóng chuyển thành acid sun-foxyanic là chất làm to tuyến giáp trạng. Không nên ăn nhiều các loại quả có chứa nhiều sắc tố thực vật như cam, quýt, táo, lê, nho, vì trong những hoa quả này có chứa chất flavon, trong cơ thể sẽ bị vi khuẩn đường ruột phân giải thành acid diglycero benzoic và acid ferulic đều là những chất làm ức chế chức năng tuyến giáp trạng rất mạnh, làm cho bệnh nặng thêm.

Ăn kiêng với bệnh ngoài da (da liễu)

Ăn uống và sự phát sinh, phát triển, chữa trị bệnh ngoài da có quan hệ mật thiết. Đông y cho rằng một số thức ăn có thể gây bệnh ngoài da. Sách Ngoại khoa chính tông trong mục Tạp kỵ tu tri đã ghi: Thịt gà, ngỗng, dê, sò, hàu,  hến, tôm, cua đều là hải vị, có thể gây ngứa. Thực tế cho thấy, kiêng ăn đối với bệnh ngoài da đúng là có giá trị đề phòng và chữa bệnh. Nói chung, bất kể bệnh ngoài da do bị lây bệnh hay không bị lây bệnh, chỉ cần trên da bị viêm hoặc sinh ngứa thì cần phải kiêng ăn hoặc ít ăn hải sản, cá, tôm, trứng gà, thịt muối, mỡ động vật, đậu tằm, đậu Hà Lan, măng và các loại đồ hộp.

– Viêm da đầu: Biểu hiện là thường có các vẩy nhỏ làm cho da đầu ngứa, nhiều vẩy nến ở má, sau tai, sau lưng, nguyên nhân gây bệnh là do da bài tiết quá nhiều chất nhờn, có quan hệ mật thiết với tiêu hóa kém và thiếu vitamin. Vì vậy bệnh nhân cần phải kiêng thịt mỡ, bơ, vì thức ăn giàu chất béo; ít uống rượu, ăn ớt và quả; ăn nhiều rau tươi.

– Chứng ngứa: Phần nhiều thấy ở người già và người có thể chất suy nhược, da thường rất ngứa, khô không có mụn, YHCT cho rằng do huyết hư sinh phong, vì vậy ăn uống phải tránh ăn cay và thức ăn có mùi kích thích như thuốc lá rượu, trà đặc, cà phê.

– Nổi mẩn: Tục gọi là phong mẩn hạt kê, biểu hiện là trên da nhiều lần đột nhiên xuất hiện rồi lại đột nhiên biến mất, những mụn đỏ hoặc hơi trắng to nhỏ khác nhau, rất ngứa. Ngoài việc cần phải tránh lạnh, nóng, tia nắng kích thích, muỗi đốt, bọ cắn, tránh tiếp xúc với cây sơn, cây gai còn phải tránh ăn cá, tôm, cua, sữa, trứng, rượu, quả mơ là những loại thực phẩm dễ gây dị ứng đối với cơ thể.

– Trẻ nhỏ bị phỏng rạ: Thường do trẻ bị dị ứng với trứng gà, cá và sữa gây nên, người mẹ cho con bú nên tạm thời không ăn hoặc ăn ít các thực phẩm như trứng gà, sữa bò và hải sản.

Ăn kiêng và bệnh động mạch vành

Ba điều nên tránh trong ăn uống của người bị bệnh động mạch vành:

– Tránh thức ăn nhiều chất béo: Rất nhiều tài liệu trong và ngoài nước đã chứng minh, ăn nhiều và lâu dài chất béo là nhân tố quan trọng dẫn đến bệnh động mạch vành, vì vậy nhiều học giả cho rằng, đề phòng và chữa bệnh động mạch vành phải chú ý đến lượng mỡ ăn vào. Nhất là đối với người béo phì, ăn mỡ cần phải khống chế chỉ chiếm dưới 20 – 25% tổng nhiệt năng ăn vào hoặc thấp hơn nữa.

Nên biết là chất lượng mỡ của bữa ăn ảnh hưởng quan trọng hơn so với lượng của mức độ mỡ trong máu, acid béo bão hòa trong mỡ có tác dụng nâng cao cholesteron trong máu, còn acid béo không bão hòa lại có tác dụng hạ cholesteron trong máu. Do đó có thể thấy người bị bệnh động mạch vành nên ít ăn thức ăn có nhiều cholesteron như: gan, thận, não, lòng đỏ trứng, trứng cá, trứng muối đen, cá mực, cá chép và cả thức ăn chứa nhiều acid béo bão hòa như: thịt heo béo, thịt cừu, bò béo, mỡ bò, mỡ cừu, bơ, kem.

– Tránh uống rượu mạnh: Nói chung độ cồn trong rượu mạnh từ 50 – 60° trở lên. cồn có hại cho cơ thể, làm tim đập nhanh, làm tăng nhiều lipoprotein trong máu, làm nặng thêm bệnh động mạch vành, vì vậy cấm dùng rượu mạnh. Đối với loại rượu bia, rượu nho có nồng độ cồn thấp chỉ nên uống ít.

– Tránh tắm sau khi ăn: Người bị bệnh động mạch vành sau khi ăn không được tắm ngay, vì người bệnh đang bị rối loạn về tuần hoàn máu của cơ tim, nếu sau khi ăn tắm ngay, lúc đó số lượng lớn máu đang trải ra ở hệ thống tiêu hóa và da toàn thân, làm việc cung cấp máu của cơ tim càng khó khăn, dễ gây nên bệnh nhồi máu cơ tim.

Bệnh nhân động mạch vành khi ăn không nên ăn quá no: đặc biệt là đối với những người sau khi ăn hay bị đau nhói tim càng cần phải chú ý. Theo báo chí thì trên 6% bệnh nhân động mạch vành vì ăn no mà bị nhồi máu cơ tim cấp tính. Vì ăn nhiều thức ăn, nhất là thức ăn giàu chất béo, sẽ khó tiêu hóa, làm tăng thêm gánh nặng cho tim, bụng bị đầy hơi, cơ hoành bị đẩy lên cao, hạn chế tim co bóp bình thường, lại do yêu cầu tiêu hóa thức ăn, máu của toàn thân tập trung nhiều ở ruột và dạ dày nên việc cung cấp máu cho động mạch vành càng thiếu, càng làm cho cơ tim thiếu máu, thiếu oxy, dễ gây nên đau nhói ở tim, nhồi máu cơ tim nguy hiểm đến tính mạng.

Ăn bữa tối quá no lại càng nguy hiểm, vì ban đêm sau khi ngủ máu sẽ chảy tương đối chậm, nếu bữa tối ăn quá no, chất mỡ trong máu tăng lên nhiều, đọng lại trên mạch máu, làm ảnh hưởng sự đàn hồi của mạch máu, gây nên xơ cứng động mạch. Các nhà chuyên môn đề nghị dùng cách ăn ít nhưng ăn nhiều bữa, mỗi ngày có thể ăn từ 4 – 5 bữa, mỗi bữa chỉ ăn no độ 7/10, thức ăn, uống nên thanh đạm. Như vậy vừa dễ tiêu hóa không ảnh hướng đến giấc ngủ, lại có thể đề phòng được đau nhói ở tim và bệnh nhồi máu cơ tim cấp tính.Các loại thực phẩm cần ăn kiêng với 18 nhóm bệnh khác nhau - Ảnh 2

Người bị bệnh động mạch vành cần phải kiêng hút thuốc: Hút thuốc, huyết áp cao và mỡ máu cao là ba nhân tố gây bệnh nhồi máu cơ tim, trong đó hút thuốc có ảnh hướng lớn nhất. Nguyên nhân động mạch vành sinh ra nhồi máu cơ tim chủ yếu là do động mạch vành bị xơ vữa. Trong thuốc lá có chứa nicotin và oxyt cacbon trong khói thuốc là chất độc và gây viêm đối với thành mạch máu của động mạch vành và tế bào cơ tim, nicotin còn kích thích tuyến thượng thận tiết adrenalin làm tim đập nhanh, mạch máu co lại huyết áp tăng lên; oxy cacbon làm thành động mạch thiếu oxy, hàm lượng cholesteron trong máu lên cao, tất cả những thứ đó đều thúc đẩy sự hình thành xơ vữa động mạch, khiến cho bệnh động mạch vành nặng thêm.

Theo nhiều công trình nghiên cứu thì người hút thuốc lá có nguy cơ nhồi máu cơ tim nhiều hơn người không hút thuốc 2 – 6 lần, lượng thuốc hút càng nhiều, thời gian càng dài, thì tỷ lệ mắc bệnh nhồi máu cơ tim càng cao. Vì vậy, các nhà khoa học khuyên những người nghiện thuốc nên bỏ thuốc, khuyên những người bị bệnh động mạch vành, thậm chí cả những người đã từng bị nhồi máu cơ tim không nên mất lòng tin, nên sớm quyết tâm cai thuốc, để khoẻ mạnh sống lâu.

Ăn kiêng và gãy xương

Đông y có quan niệm “Ăn gì bổ nấy – Dĩ tạng trị tạng…” Thường người ta cho rằng bị gãy xương thì phải ăn nhiều súp thịt xương để dùng xương bổ cho xương, như vậy vết thương sẽ chóng khỏi. Tuy nhiên, cần lưu ý là chất canxi và phospho trong xương đúng là thành phần quan trọng của xương người, nhưng gãy xương không phải vì thiếu canxi và phospho gây nên, vì vậy khi bị gãy xương nếu ăn súp, thịt xương quá nhiều thì không những không làm cho xương mau liền, mà còn có thể ảnh hưởng đến việc hàn gắn chỗ gãy, thậm chí còn gây nên nguy hiểm.

Quan sát ta có thể thấy sau khi gãy xương, muối canxi ở đầu xương gãy có một thời gian chạy vào trong máu, người bị gãy xương do hoạt động bị giảm, xương toàn thân sẽ sản xuất ra chất canxi thải loại, số lớn chất canxi cũng từ xương tan vào máu. Nếu lúc này người bị gãy xương lại ăn nhiều súp, thịt xương, sẽ làm lượng canxi trong máu tăng lên, gây nên sỏi đường tiết niệu. Ăn nhiều súp thịt, xương có thể làm cho thành phần chất vô cơ trong chất xương tăng cao, gây mất cân bằng tỉ lệ giữa hữu cơ và vô cơ, do đó kéo dài thời gian hàn gắn chỗ xương gãy.

Ngoài ra ăn thường xuyên súp thịt xương nhiều chất béo sẽ làm người bệnh chán ăn, tiêu hóa kém, hoặc tiêu chảy, ngược lại không có lợi cho việc hấp thụ dinh dưỡng khác, bát lợi cho hàn gắn xương gãy. Sau khi bị gãy xương người ta thường uống nhiều rượu (gồm cả rượu thuốc) để làm cho máu lưu thông, điều này không đúng vì trong rượu có chất cồn, sau khi gãy xương, nếu uống nhiều rượu sẽ ảnh hưởng đến sự trao đổi chất của tổ chức xương, làm giảm khả năng phát triển và hàn gắn vết thương của xương. Chất cồn còn ảnh hưởng đến tác dụng hàn gắn xương của các loại thuốc, vì vậy bị gãy xương không nên dùng cách uống rượu để thông huyết, nếu không sẽ bất lợi cho việc hàn gắn chỗ xương gãy.

Ăn kiêng và giảm trí nhớ

– Tránh uống rượu: Rượu dễ dàng vào máu, cũng rất dễ dàng vào não, làm tổn hại tế bào não, ảnh hưởng đến trí nhớ. Kiểm tra thi thể người bị chết vì say rượu, người ta phát hiện tổ chức não bị rượu làm tổn hại rất lớn. Nếu nồng độ rượu trong máu của người say rượu là 1 thì ở gan là 1,48, ở não là 1,57, trong nước tủy sống là 1,59. Có báo cáo cho biết kiểm tra các sinh viên đại học, kết quả cho thấy uống rượu càng nhiều thì trí nhớ càng kém.

Cũng có người đã đo và so sánh não của người nghiện rượu lâu ngày và người không uống rượu, đã phát hiện rằng nửa đầu bên trái của người nghiện rượu thấp hơn của người không uống rượu, chứng tỏ các tổ chức não vì uống rượu mà trở lên lỏng lẻo, trọng lượng đại não của người uống rượu nhẹ hơn nhiều so với của người không uống rượu. Trên các phim chụp cắt lớp (MRI) não có thể thấy não người uống rượu bị teo lại, có hiện tượng mất nước. Có thể thấy rượu làm tổn hại tế bào não rất rõ rệt.

– Nên tránh thói ăn xong đã động não: Sau khi ăn, phần lớn máu tập trung vào đường ruột để tiêu hóa, máu cung cấp cho não tương đối giảm. Nếu ăn xong lập tức động não ngay (như xem sách, đọc báo, làm toán, sáng tác v.v…) sẽ gây nhức đầu, lâu dài còn gây nên tiêu hóa kém và thần kinh suy nhược.

Các loại thực phẩm cần ăn kiêng với 18 nhóm bệnh khác nhau - Ảnh 3

Ăn kiêng và bệnh gout

Thống phong (gout) là bệnh do rối loạn trao đổi chất purin, làm cho acid uric trong máu lên cao đọng lại trong cơ thể gây nên. Bệnh thường thấy có viêm khớp thống phong cấp tính và mạn tính, thống phong kết sói, thống phong tổn thương thận. Nguyên nhân gây bệnh vẫn chưa rõ, nhưng quan sát qua chất purin giỏi y học cho rằng ăn uống không hợp lý là một trong những nguyên nhân gây nên bệnh. Thuốc để chữa bệnh này, hiện nay chỉ chữa theo triệu chứng, chưa thể chữa khỏi hoàn toàn. Điều trị bằng ăn uống là phương pháp tương đối tốt để cái thiện sự rối loạn trao đổi bên trong cơ thể, điều trị về ăn uống cần phải chú ý phối hợp, điều chỉnh nấu nướng cho hợp lý.

– Người bị thống phong, về lâu dài nên ăn các thức ăn có tính kiềm: vì không những chất kiềm làm cho máu trong cơ thể có tính kiềm, khiến cho acid uric bị kiềm hòa tan và bài tiết ra ngoài cơ thể, còn do phần lớn thức ăn có tính kiềm chứa tương đối ít purin. Các loại rau, quả như: cải trắng, rau cần, rau hoa lơ, bí đỏ, dưa chuột, cà, cà chua, củ cải, măng tre, rau diếp, khoai tây, hành tây, đào, lê, hạnh, chuối tiêu, táo, dứa đều là thức ăn kiềm tính nhưng ít hoặc không chứa purin. Cho nên ăn nhiều thức ăn kiềm tính không những giảm được chất purin bên ngoài nhập vào cơ thể, mà còn bài tiết được chất purin trong cơ thể ra ngoài.

Ngược lại thức ăn có tính chua thường làm cho máu trong cơ thể có  tính chua, do đó làm cho acid uric trong máu lắng đọng lại làm bệnh nặng thêm; ngoài ra phần nhiều thức ăn có tính chua đều chứa nhiều purln như: các loại tiết, nội tạng động vật, các loại chim đều là thức ăn có tính chua, hàm lượng purin tưong đối cao. Tuy vậy trong thức ăn kiềm tính cũng có một số loại có chứa lượng purin cao, như các loại đậu, thức ăn có tính chua lại cũng có loại chứa ít purin như dầu thực vật, trứng gà, sữa bò. Vì vậy khi chọn lựa thức ăn, không nên chọn tất cá, mà phải theo nguyên tắc tránh thức ăn có hàm lượng purin cao.

– Về gia vị nên dùng: Bệnh thống phong cấp tính, thường có liên quan đến sự hưng phấn cao của thần kinh thực vật mà các loại gia vị mạnh như ớt, bột cà ri, các hương liệu thường dùng trong ăn uống hàng ngày, tuy những thứ này có thể kích thích tiết dịch tiêu hóa làm cho muốn ăn, nhưng đa số lại chỉ có tác dụng làm hưng phấn thần kinh thực vật, gây nên bệnh thống phong cấp tính. Vì vậy, gia vị trong ăn uống của người bị bệnh thống phong nên loãng, nhạt mà tránh dùng nhiều. Ngoài ra trà đặc, rượu mạnh cũng làm hưng phấn thần kinh thực vật, nên cũng cần kiêng.

– Về cách nấu nên bớt nước lấy chất: Bệnh thống phong đa số xuất hiện trong số những người có mức sống tương đối cao, vì những người này ăn nhiều thịt cá. Nhưng ngay một lúc để những người này tránh ăn mặn mà ăn chay thì tương đối khó, mà ăn mặn tùy thuộc loại thức ăn có tính toán chứa nhiều purin, nhưng cũng có chứa nhiều chất dinh dưỡng khác, nếu tránh ăn mặn lâu dài sẽ dẫn đến thiếu dinh dưỡng. Vì vậy người bệnh vẫn cần phải ăn thức ăn mặn có mức vừa phải, nhưng để tránh chất purin làm nặng thêm bệnh, thì khi nấu nướng phải nấu thành canh bằng cách hầm, ninh, luộc, hấp v.v…, sau khi đã chín kỹ, chín nhừ thì nên bỏ nước lấy chất, vì chất purin trong thức ăn mặn có đến 50% hòa tan vào nước, nếu bỏ nước sẽ giảm chất purin trong thức ăn.

Ăn kiêng nơi người liệt dương

– Nên kiêng hút thuốc: Khoa học đã chứng minh hút thuốc lâu dài có thể gây trở ngại cho sự tuần hoàn máu ớ ngoại vi cơ thể, cũng sẽ ảnh hưởng đến tuần hoàn máu ở dương vật, có hại đối với cơ quan sinh dục. Chất nicotin trong thuốc lá có hại đối với cơ quan sinh dục là điều thấy rất rõ. Người hút thuốc lá không phải sau một đêm đã liệt dương, nhưng người bị liệt dương do hút thuốc đều tự cảm thấy rằng phải mất nhiều thời gian so với trước dương vật mới cương lên, hoặc độ cứng của dương vật dần dần yếu hơn trước. Nếu cứ kéo dài như vậy, đến một ngày nào đó, dù không có nguyên nhân gì khác, dương vật sẽ hoàn toàn mất hết khả năng cương cứng.

Kết quả nghiên cứu trên cho thấy hút thuốc lâu dài có thể bị liệt dương. Vậy thì cai thuốc có khắc phục được liệt dương không? Có thể được. Có báo cáo cho thấy 60 trường hợp bị liệt dương sau khi cai thuốc thì khi ngủ dương vật đã cương lên được. Nhưng trong thí nghiệm này, đa số cơ quan sinh dục của những người này cũng không cứng được nhiều, đó là do di chứng làm tổn thương sinh lý gây nên liệt dương.

– Tránh uống rượu: Vì uống rượu sẽ làm liệt dương nặng thêm. Thành phần chủ yếu của rượu là ethanol. Đối với nam giới ethanol sẽ làm cho mức testosteron trong máu hạ thấp, có tới 70 -80% nam giới bị liệt dương hoặc không có con. Người bình thường không thích uống rượu, bất ngờ uống phải rượu mạnh, cũng làm cho lượng testosteron hạ xuống, gây nên liệt dương. Nếu bình thường mỗi ngày uống 250g rượu mạnh, liên tục từ 2 – 5 năm có thể dẫn đến liệt dương hoàn toàn, không còn khả năng sinh hoạt tình dục. Có báo cáo thống kê cho biết trong 17.000 người nghiện rượu thì có tới 1.360 người hoàn toàn liệt dương, trong đó có một nửa tuy đã cai rượu vài tháng, thậm chí vài năm mà vẫn không thể khôi phục được sinh hoạt tình dục bình thường. 

Các loại thực phẩm cần ăn kiêng với 18 nhóm bệnh khác nhau - Ảnh 4

Ăn kiêng và loãng xương

Chứng loãng xương gặp nhiều ở người già, do thiếu chất canxi hoặc nguyên nhân khác làm giảm thấp độ cứng của xương gây nên.

– Tránh ăn nhiều đường: Ăn nhiều đường có thể ảnh hướng sự hấp thụ chất canxi, gián tiếp dẫn đến chứng loãng xương.

– Tránh ăn nhiều chất protein: Chất protein vào cơ thể quá nhiều sẽ làm mất chất canxi. Thực nghiệm cho thấy nếu phụ nữ mỗi ngày cần 65 gam protein, nếu tăng lên đến 98 gam, thì mỗi ngày cũng sẽ làm mất đi 26 gam canxi.

– Tránh ăn quá mặn: Ăn nhiều muối cũng làm mất canxi và làm nặng thêm chứng loãng xương.

– Tránh nghiện cà phê: Người nghiện uống cà phê bị mất nhiều canxi hơn người không nghiện.

Ăn kiêng và lở loét miệng

Lở loét miệng là loại bệnh tái phát nhiều lần, ảnh hướng đến việc ăn uống và sinh hoạt hàng ngày, cho đến nay vẫn chưa rõ nguyên nhân, cũng chưa có cách chữa trị có hiệu quả. Những năm gần đây, một nhà khoa học người Anh qua điều tra tỉ mỉ và kiểm nghiệm nhiều lần đã phát hiện thấy rằng những người bị lở miệng lâu dài đều có liên quan chặt chẽ với việc ăn uống. Thức ăn gây nên loại bệnh này là loại thức ăn có vỏ trấu, cám như: tiểu mạch, đại mạch, yến mạch, các thức ăn từ sữa, nếu trong thức ăn bỏ được các loại nói trên thì chứng lở miệng sẽ mau khỏi.

Ngoài ra, người ta còn phát hiện thấy những người bị lở miệng khi nặng khi nhẹ có thể có liên quan đến một số thức ăn nào đó. Nguyên nhân gây lở miệng lâu dài có liên quan đến ăn uống được các nhà khoa học cho rằng có thể là do người bị bệnh phản ứng với một loại hoặc nhiều loại thức ăn gây nên. Vì vậy bị chứng lở loét miệng lâu dài, chữa lâu khỏi nên tìm nguyên nhân trong ăn uống.

Ăn kiêng và bệnh về mắt

– Tránh ăn nhiều tỏi: Tục ngữ có câu hành tỏi hại mắt. Đó là kinh nghiệm trong thực tế của mọi người. Tỏi (Allium sativum) va hành (Allium fistu-losum) là gia vị thường dùng cho các món ăn, ăn vừa có lợi, lại phòng được bệnh, nhưng ăn lâu, ăn nhiều thậm chí nghiện thì có ảnh hưởng rất lớn đối với bệnh về mắt. Sách Bản thảo cương mục (1578) Lý Thời Trân nhận định: Ăn tỏi lâu dài sẽ thương tổn gan và hại mắt, sách Lãnh Lư y thoại nhấn mạnh: Hẹ, tỏi, ớt, hạt cải thường làm hại mắt, nên tránh xa.

Con mắt, người xưa gọi là cửa sổ tâm hồn, Can khi tốt biểu hiện ở mắt, can huyết dùng để nuôi mắt, can huyết hư thì nhìn không rõ, hai mắt sẽ khô. Tỏi làm tổn thương gan, hại huyết rất ánh hướng đến bệnh của mắt. Người xưa cho rằng, quá trình chữa trị bệnh mắt phải cấm các thức ăn kích thích như 5 loại cay gồm tỏi, hành tây – hành củ, hẹ, gừng tươi, ớt, nếu không sẽ ảnh hưởng đến việc điều trị, còn cho rằng mùa hạ và mùa thu ăn quá nhiều tỏi, càng ảnh hưởng đến việc chữa khỏi các bệnh về mắt.

– Bị đau mắt tránh ăn nhiều rau diếp: Rau diếp (Lactuca sativa) là món ăn thường được dùng về mùa xuân và mùa hè. Người lao động coi rau diếp là món ăn bổ, là một thứ thuốc phòng chữa được một số bệnh. Sách Trửu hậu bị cấp phương (năm 05) đã xếp rau diếp vào loại thuốc thảo mộc. Dược học hiện đại cho biết, ăn rau diếp tươi có tác dụng hạ đường huyết, lợi niệu, hạ huyết áp, đề phòng rối loạn nhịp tim đối với các bệnh nhân đái tháo đường, huyết áp cao và bệnh tim mạch; ngoài ra còn đề phòng và chữa trị chứng thiếu máu vì thiếu sắt. Nhưng nếu ăn quá nhiều, ăn thường xuyên sẽ sinh chứng quáng gà.

Sách Trấn nam bản thảo ghi: Thường xuyên ăn rau diếp sẽ làm đau mắt, người bị bệnh về mắt cần phải kiêng, sách Bản thảo diễn nghĩa ghi: “Ăn nhiều làm mờ mắt”. Trên lâm sàng đã chứng minh chứng quáng gà không có liên quan đến thiếu vitamin A mà do ăn nhiều và ăn thường xuyên rau diếp, đây là một loại phản ứng nhiễm độc. Nếu bị quáng gà sau khi ăn nhiều rau diếp thì chỉ cần không ăn vài hôm sẽ khỏi. Vì vậy thích ăn rau diếp cũng nên ăn cho chừng mực. Nếu có bệnh đau mắt, càng phải chú ý, không nên ăn quá nhiều.

– Bị đau mắt cần kiêng thuốc lá, rượu: Theo nhiều công trình nghiên cứu, khói thuốc và nicotin trong thuốc trực tiếp kích thích mắt có thể gây nên viêm kết mạc mạn tính. Hút thuốc nhiều và lâu  dài còn có thể gây bệnh về thần kinh thị lực, thị lực kém vì trúng độc, triệu chứng chủ yếu là: thị lực giảm dần, hoa mắt, nhãn cầu khô, hay mệt mỏi; đặc biệt là những người hút thuốc cuốn, hút tẩu, hút điếu ống, hút xì gà trúng độc càng nặng, nếu đã bị bệnh đau mắt đỏ (viêm kết mạc), viêm giác mạc, viêm mống mắt (tròng đen), tăng nhãn áp (glôcôm) uống rượu làm mắt bị sung huyết, chứng viêm càng nặng, chứng đau rát ngứa càng rõ.

Hút thuốc khi đói bụng, hút thuốc sau khi ăn, hút thuốc trước khi đi nhủ càng làm cho thị lực giảm sút. Bởi vì trong khói thuốc có chứa chất độc gọi là xianogen, hút nhiều xianogen sẽ đọng lại trong cơ thể làm tổn hại thần kinh thị giác, dẫn đến kém mắt vì nhiễm độc. Nếu dinh dưỡng kém, thiếu vitamin B2, thiếu máu, máu không đủ làm trơn mắt, lại hút thuốc thì càng dễ bị đau mắt. Rượu tính nóng, lại mạnh nên nói chung người bị đau mắt không nên uống. Chất metanol trong rượu làm cho viêm thần kinh thị giác, viêm gai thị giác, teo thần kinh thị giác là nguyên nhân quan trọng làm thị lực giám sút hoặc mù.

Người nghiện rượu, vì nhiệt lượng quá nhiều, nói chung không thấy đói, thậm chí có người chỉ uống rượu với vài thứ làm mồi, không ăn cơm và thức ăn, lâu dài như vậy sẽ có hiện tượng thiếu vitamin và chất dinh dưỡng nghiêm trọng, dễ gây nên kém mắt vì trúng độc. Nếu bệnh nhân bị bệnh tiểu đường, xơ cứng động mạch, cao huyết áp thì sau khi uống rượu có thể làm vỡ mạch máu, đáy mắt xuất huyết, đột nhiên bị mù.

Bị đau mắt không nên ăn nhiều đường: Đường là chất bổ sung nhiệt lượng, không có thành phần dinh dưỡng gì khác, vì vậy ngày thường cũng chỉ nên ăn ít, người bị đau mắt càng không nên ăn nhiều đường. Khi trao đối chất trong cơ thể, đường cần có vitamin B1 tham dự, nhưng bản thân đường không chứa vitamin B1, cho nên ăn nhiều đường sẽ làm cơ thể thiếu vitamin B1, khiến acid pyruvic và acid lactic bị ứ lại trong máu, trong hệ thống thần kinh và hệ thống tiêu hóa do đó ức chế việc acetyl hoá cholin, ngăn trở sự hợp thành acetyla-cholin, làm cho thần kinh thị giác bị ngăn trở.

Vì vậy, ăn quá nhiều đường dễ bị viêm thần kinh thị giác, nhất là viêm thần kinh sau nhãn cầu, làm thị lực giảm sút. Gần đây nhiều nhà nghiên cứu đã phát hiện thấy ăn nhiều đường có thể gây ra cận thị. Đường trong cơ thể, làm tiêu hao nhiều can xi, làm giảm sức đàn hồi của nội mạc nhãn cầu, nhãn cầu dễ bị kéo dài ra gây nên cận thị; trao đổi chất của đường còn làm tiêu hao nhiều vi lượng crom, chất này là cơ sở quan trọng để giữ vững nhãn áp, nếu ăn nhiều đường ảnh hưởng đến sức ép của dịch thể trong mắt, lâu dài sẽ làm cho trục nhãn cầu kéo dài ra, gây cận thị.

Các loại thực phẩm cần ăn kiêng với 18 nhóm bệnh khác nhau - Ảnh 5

Ăn kiêng và sỏi đường tiểu

Sỏi đường tiết niệu có nhiều loại bao gồm cả sỏi thận, sỏi niệu quản và sỏi bàng quang, là chứng bệnh gây ra do trao đổi chất, vì vậy có quan hệ mật thiết đến việc ăn uống không thích hợp. Nhưng việc kết sỏi thường do nhiều loại muối trong nước tiểu tạo thành, rất ít trường hợp chỉ do một loại muối tạo thành, vì vậy, việc khống chế thức ăn tương đối khó, nhưng khi đã chẩn đoán xác định được tính chất của sỏi thì phải chú ý kiêng kỵ trong ăn uống.

– Nước tiểu nhiều canxi tự phát: Trong ăn uống cần hạn chế sữa bò, pho mát và thức ăn giàu canxi khác, có thể ăn nhiều thức ăn có tính acid như cá, thịt, các loại trứng để trong nước tiểu có phản ứng acid để làm tan muối can xi.

– Sỏi do nước tiểu có muối oxalat và acid oxalic: Nếu bệnh nhân liên tục đi tiểu ra sỏi có thành phần chính là muối của acid oxalic hoặc oxalat kết tinh thì cần kiêng thức ăn có hàm lượng acid oxalic cao như cà chua, táo tây, chè, cà phê và thuốc có lượng vitamin C cao, ngoài ra nên cho bệnh nhân uống acid folic (vitamin B11) 5mg mỗi ngày và vitamin B6 10mg mỗi ngày để đề phòng glycin chuyển hóa thành muối oxalat. Nên uống nhiều nước để lợi niệu.

– Sỏi do acid uric và muối của acid uric: Bệnh này do có nhiều acid uric gây nên, có thể phát triển thành bệnh thống phong. Nên kiêng ăn những thức ăn có nhiều purin như não, nội tạng động vật, súp thịt, súp gà, nấm, đậu Hà Lan, đậu ván. Nên ăn nhiều những thức ăn có tính kiềm như các loại rau ăn lá, quả, để cho trong nước tiểu có phản ứng kiềm và nên uống nhiều để giảm thấp nồng độ acid uric trong nước tiểu. 

– Sỏi do cystin và nước tiểu có cystin: cần chú ý hạn chế thức ăn có tính acid (như thức ăn gốc động vật). Nên ăn nhiều thức ăn có tính kiềm (như thức ăn gốc thực vật) để nước tiếu có phản ứng kiềm, đồng thời nên uống nhiều nước.

– Nước tiểu có muối acid photphoric: Vì sỏi muối acid photphoric chỉ hình thành trong nước tiểu có tính kiềm, vì vậy nên ăn nhiều thức ăn có tính acid, để gây phản ứng acid trong nước tiểu. Đồng thời phải hạn chế thức ăn giàu canxi như sữa bò, đậu nành, đậu phụ, rau xanh để tránh hình thành sỏi photphat canxi.

Ăn kiêng và suyễn

Suyễn có liên quan đến các yếu tố gây dị ứng ở môi trường như khói, bụi, sơn, phấn hoa, thức ăn… Do dó, ngoài việc phòng tránh những yếu tố có thể gây dị ứng, luyện tập để nâng cao ngưỡng chịu đựng của cơ thể thì chế độ ăn uống cũng có ý nghĩa rất lớn đối với việc kiểm soát bệnh. Cơ chế gây ra bệnh hen suyễn cho đến nay vẫn còn nhiều điều chưa sáng tỏ và rất phức tạp, không phải bất cứ trường hợp hen suyễn nào cũng do nguyên nhân từ bên ngoài gây ra, tức nguyên nhân ngoại sinh như thời tiết, phấn hoa, bụi, khói thuốc lá, ô nhiễm môi trường… mà còn có những cơn hen do chính yếu tố bên trong cơ thể gây ra như stress, bệnh dạ dày, ruột… Tuy nhiên, phần lớn hen suyễn thường khởi phát do các yếu tố dị ứng với chất lạ như dị ứng theo mùa, bụi bặm, nấm mốc và phấn hoa…

Nếu chúng ta chắc chắn biết được yếu tố nào gây bất lợi làm bùng phát những cơn suyễn của mình thì càng hạn chế tiếp xúc với yếu tố đó càng tốt. Ví dụ như khói thuốc lá, mùi nồng từ thuốc trừ sâu, mùi keo xịt tóc, mùi sơn, các loại dầu thơm… Các loại thực phẩm không nên dùng: thường xuyên là những thức ăn có nhiều gia vị thường thấy ở các món salad, các loại nước uống giải khát và thực phẩm đóng hộp, thức uống lên men, rau cải ngâm giấm hoặc làm dưa chua, các loại trái cây khô đóng gói, chế biến sẵn hay một số đồ ăn biển (tôm, cua, ghẹ, mắm nêm). Tất nhiên không phải mọi thực phẩm trên đều cần phải kiêng mà bạn nên theo dõi xem mình thường dị ứng với loại thực phẩm nào, khi ăn thức ăn nào thì hay bị lên cơn suyễn để phòng ngừa và cách ly.

Ăn kiêng và táo bón

Táo bón là do ruột già hấp thụ nước quá nhiều, phân khô và cứng tích lại trong ruột già không đẩy ra được, có triệu chứng là số lần đại tiện ít, lượng phân ít, đại tiện khó. Trong trường hợp bình thường, thức ăn được tiêu hóa và hấp thụ khi đi qua đường ruột, cuối cùng chất bã bài tiết ra ngoài, thời gian cần khoảng 20 – 40 giờ, nếu sau 48 giờ vẫn không thấy phân được đẩy ra thì có thể coi là bị táo bón. Ngược lại có khi vì bài tiết khó khăn, nên một ngày đi nhiều lần, nhưng mỗi lần rất ít, phân vẫn còn đọng lại trong ruột già, cũng coi là bị táo bón.

– Tránh ăn ít thực phẩm có xơ thô: Thực phẩm có chất xơ thô có đặc tính liên tục kích thích cơ ruột, làm cơ ruột co bóp, rút ngắn thời gian phân ở lại trong ruột già, vì thế đại tiện dễ dàng. Đối với người già, vì răng đã rụng, không nhai được nên thích loại thức ăn đã chế biến, nấu nhừ, ít bã, như vậy sẽ thiếu chất xơ thô, càng dễ bị táo bón. Người ta đã điều tra các cụ già hay ăn rau cần, măng tre thì chỉ 7%, bị táo bón; Các cụ già hay ăn táo, lê là những loại quả có nhiều xơ thô thì 63% không bị táo bón. Điều đó nói lên xơ thô rát quan trọng đối  với người có tuổi.

– Tránh uống ít nước: Chất lượng đại tiện có liên quan mật thiết đến việc uống nước và số lần uống nước. Khi trong ruột có đầy đủ nước, đại tiện sẽ dễ dàng; nếu lượng nước quá ít phân sẽ bị khô cứng. Để có đủ lượng nước trong ruột làm mềm phân cần phải tập thành thói quen hàng ngày uống nhiều nước.

– Nên tránh ăn các thực phẩm dễ gây táo bón như: sữa bò, thức ăn làm bằng sữa, đậu phụ khô.

– Tránh ăn thức ăn đã chế biến: như thịt, trứng, sữa, ăn quá nhiều cũng gây táo bón.

Ăn kiêng và tiểu đường

Người bị bệnh Tiểu đường cần kiêng ăn mặn. Tiểu đường là loại bệnh mạn tính, yêu cầu về ăn uống khá cao. Theo nghiên cứu của y học nước ngoài gần đây phát hiện, thì bệnh Tiểu đường ngoài hạn chế thức ăn có các loại đường còn phải hạn chế lượng muối ăn. Các nhà nghiên cứu đã chia bệnh nhân bị Tiểu đường làm hai loại: loại cho ăn sáng có muối và loại cho ăn sáng không có muối. Kết quả thì số người ăn sáng có muối trong toàn bộ quá trình thí nghiệm, nồng độ đường glucoza trong máu bình quân đều cao hơn những người ăn sáng không có muối, chất insulin trong máu cũng lên cao.

Các nhà y học còn cho rằng, muối có thể kích thích men amilaza tiêu hóa số đường glucoza đã hấp thu, làm ảnh hướng đến trao đổi đường trong cơ thể và chất insulin làm nồng độ đường trong máu tăng lên. Tôn Tư Mạo trong “Thiên kim yếu phương” (năm 605) đã hướng dẫn: “Phải thận trọng ba thứ: một là uống rượu, hai là sinh hoạt tình dục, ba là ăn mặn, ai giữ được ba việc đó tuy không uống thuốc mà không hề gì, ai không giữ được ba việc đó thì dù có thuốc tiên cũng không cứu được”.

– Tiểu đường cần kiêng uống rượu: uống rượu làm cho cơ thể tăng nhiệt, mỗi 1 ml rượu có thể cung cấp 7 calori. Bệnh Tiểu đường lại có mối quan hệ mật thiết đến việc thừa dinh dưỡng (nhiệt lượng) cho nên người bị Tiểu đường phải hết sức hạn chế uống rượu. Sách “Y môn pháp luật” của nhà Thanh đã ghi: “Rượu ngon và món ăn ngon, đều cần phải hạn chế, ăn lâu dài sẽ thành nội nhiệt, tân dịch cạn khô… càng tiêu càng khát”. Sách “Lão lão hằng ngôn” ghi: “Rượu hâm nóng thuần dương, hao tổn chính là âm, cần có giới hạn”. Điều đó đã nói rõ uống rượu được hâm nóng làm hại âm, sẽ làm nặng thêm bệnh Tiểu đường.Các loại thực phẩm cần ăn kiêng với 18 nhóm bệnh khác nhau - Ảnh 6

Đối với những người đang tiêm insulin để chữa bệnh Tiểu đường càng phải kiêng rượu: Insulin làm tăng thêm độc tính của rượu, vì vậy khi đang tiêm insulin tuyệt đối không được uống rượu trắng, cả rượu nho và bia cũng không nên uống. Người bị bệnh Tiểu đường kiêng ăn thức ăn béo, ngọt, nhiều gia vị: Trung dược học cho rằng, nguồn gốc của bệnh Tiểu đường (tiêu khát) là do âm hư táo nhiệt gây nên, các thức ăn béo, ngọt, nhiều gia vị làm tổn thương phần âm mà trợ nhiệt, vì vậy cần kiêng. Thiên “Âm dương biệt luận” (Tố vấn) viết: “Nhị dương kết vị chi tiêu”.

Nhị dương là chỉ ruột, nếu ăn lâu dài chất béo, ngọt, nhiều gia vị sẽ ảnh hưởng đến tiêu hóa của tỳ vị, thức ăn tích quá nhiều trong dạ dày sinh nhiệt làm tổn hại âm, tiêu hao tân dịch sẽ xuất hiện chứng tiêu thức ăn gây nên đói mà thành ra tiêu khát. Chất béo là thức ăn nhiều mỡ như thịt mỡ, bơ, lòng đỏ trứng; chất ngọt là loại có chứa nhiều đường; nhiều gia vị chỉ loại cay nóng như rượu, thuốc lá, gừng, ớt, hồ tiêu, hoa hồi, quế và thức ăn rán bằng mỡ. Nói chung, lượng chất béo ăn mỗi ngày 1g cho 1 kg thế trọng, chất béo quá nhiều sẽ làm trở ngại việc sử dụng đường, dễ bị ngộ độc cê tôn, vì vậy cần ăn ít hoặc không nên ăn mỡ động vật, cũng nên kiêng ăn nội tạng động vật giàu cholesterol như: não, thận, lòng heo, tim…

Về việc ăn đường, bị bệnh Tiểu đường trong điều kiện được cung cấp dinh dưỡng đầy đủ đúng quy định, thì về nguyên tắc nên kiêng ăn đường, thức ăn ngọt, bánh kem, kẹo, mứt, thức ăn có chứa nhiều chất bột như khoai lang, khoai tây, khoai sọ, đậu đỏ, đậu xanh, đậu Hà Lan, đậu đũa cũng nên ăn ít. Nếu bệnh nhân cảm thấy rất đói thì có thể cho ăn thức ăn ít chứa đường như rau cải trắng, rau cần, bí đỏ, bí đao, mướp, cà chua, rau hẹ. Lượng protein khác phải căn cứ vào bệnh tình mà xác định, người béo càng nên ăn ít hơn. Nếu bệnh nặng, chức năng gan, thận bị tổn hại thì phải chú ý hạn chế ăn chất protein.

– Người bị bệnh Tiểu đường cần phải cai hút thuốc: Nicôtin có thể kích thích sự tiết dịch của tuyến thượng thận làm đường huyết tăng lên. Lượng nicôtin ít, có tác dụng gây hưng phấn hệ thống thần kinh trung ương, lượng nicôtin nhiều sẽ ức chế hoặc làm tê liệt thần kinh trung ương, rất có hại đối với người bị tiểu đường, nhất là người chữa bằng insulin càng phải kiêng hút thuốc lá.

Y học cổ truyền cho rằng bệnh “Tiểu đường”(tiêu khát) là loại bệnh nhiệt thịnh âm thương, thuốc lá là loại tân ôn phát tán, có thể làm tổn âm hao, đối với bệnh Tiểu đường chỉ có hại không có lợi. Các nghiên cứu cho thấy người bình thường sau khi hút thuốc, thì nồng độ catecholamin trong máu tăng lên, huyết áp lên cao, mạch đập nhanh, nhiệt độ ngoài da hạ từ 1 – 2 độ, làm cho mạch máu có hiện tượng co lại. Nếu bệnh nhân chữa theo cách dùng insulin mà khi đó hút thuốc sẽ có thể làm cho mạch máu tiếp tục co lại mà trực tiếp ảnh hưởng đến việc hấp thụ insulin. Theo quan sát lâm sàng, người hút thuốc mà đang dùng insulin sẽ phải tiêm nhiều hơn người không hút thuốc 15 – 20%, còn người hút thuốc nhiều thì phải dùng nhiều đến 30% mới có hiệu quả. Vì vậy, người bị tiểu đường muốn khôi phục sức khỏe, nên sớm cai thuốc.

Ăn kiêng và tim mạch

Kiêng cữ trong ăn uống được xem là một biện pháp điều trị các bệnh tim mạch.

– Hạn chế ăn mặn: Cách tốt nhất là phải hạn chế ăn mặn đến mức tối đa có thể được. Hãy tập thay đổi từ từ, đầu tiên đừng dùng nước chấm khi ăn, tránh các loại mắm, cá thịt khô, nếu cần hãy nấu ăn riêng. Nếu thực hiện được chế độ kiêng cữ tốt thì không những bệnh thuyên giảm mà còn giúp giảm bớt được thuốc men, đỡ tốn tiền chữa bệnh.

– Nước uống: Nhiều người cho rằng uống càng nhiều nước càng tốt vì giúp lọc sạch cơ thể. Quan niệm này không hoàn toàn đúng, nhất là với bệnh tim hay bệnh thận. Đối với một người khỏe mạnh, khi uống nhiều nước, tim và thận phải tăng hoạt động để thải bớt nước ra ngoài, giữ sự cân bằng trong cơ thể. Ngược lại, có người đã có bệnh tim hay bệnh thận, hai cơ quan này không còn hoạt động tốt nên nước sẽ bị giữ lại trong cơ thể gây triệu chứng khó thở, phù, thậm chí còn gây ra tình trạng “ngộ độc nước”, biểu hiện qua triệu chứng lơ mơ, hôn mê.

Nói chung, người bị bệnh tim nên uống nước theo nhu cầu cơ thể, nghĩa là chỉ uống khi cảm tháy khát. Nếu bệnh của bạn chỉ ớ mức độ nhẹ, việc hạn chế uống nước là không cần thiết. Những trường hợp suy tim nặng chỉ nên hạn chế uống khoảng 1 lít nước mỗi ngày. Nên nhớ rằng uống quá ít nước cũng rất nguy hiểm vì có thể gây tụt huyết áp, choáng váng, chóng mặt. Bác sĩ sẽ cho biết nhu cầu nước thế nào là phù hợp với mức độ bệnh của bạn.

– Kiêng mỡ béo: Nếu các xét nghiệm và chẩn đoán cho biết bạn bị rối loạn mỡ máu hay béo phì, bạn nên hạn chế ăn chất béo như thịt mỡ, phô mai, kem, bơ. Các loại thức ăn này làm tăng lượng cholesterol trong máu, đọng lại trong mạch máu gây nhiều bệnh như nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não

– Kiêng Rượu bia: Y học đã chứng minh việc nghiện rượu bia có ảnh hưởng rất xấu đối với sức khỏe nói chung và bệnh tim mạch nói riêng. Rượu bia có thể không ảnh hướng đến bệnh tim nhưng lại gây bệnh dạ dày, bệnh gan. Ngoài ra, có một thể bệnh tim đặc biệt gọi là bệnh cơ tim do rượu. Nếu bị bệnh này, bạn phải kiêng cữ rượu bia hoàn toàn. 

– Kiêng Thuốc lá: Thuốc lá là thứ cần phải kiêng cữ tuyệt đối khi bị bệnh tim mạch. Thuốc lá ảnh hướng rất xấu đối với các bệnh do nguyên nhân xơ vữa động mạch như thiếu máu não, thiếu máu cơ tim. Nếu không bỏ thuốc lá, có thể bị tai biến mạch máu não, nhồi máu cơ tim, suy tim…và nhất thiết phải cố gắng bằng mọi cách bỏ hút thuốc lá ngay khi biết mình bị bệnh tim mạch.

Ăn kiêng và viêm đại tràng

Thay đổi chế độ dinh dưỡng là một yếu tố quan trọng trong việc điều trị bệnh viêm đại tràng. Bệnh nhân cần tăng cường ăn chất xơ, đồng thời phải kiêng rất nhiều thứ như chất béo, chất kích thích và một số loại thuốc.

Sau đây là một số điều trong ăn uống mà bệnh nhân viêm đại tràng mạn cần lưu ý:

– Khi bị táo bón: Giảm chất béo, tăng chất xơ. Ăn làm nhiều bữa nhỏ, chừng hơn 2 tiếng lại ăn một bữa.

– Khi bị tiêu chảy: Tránh hẳn chất xơ dạng không tan như cellulose để thành ruột khỏi bị cọ xát. Không ăn rau sống, trái cây khô, trái cây đóng hộp, nếu ăn trái cây tươi thì phái gọt bỏ vỏ (kể cả nho).

– Tránh chất kích thích: Những thực phẩm có chất kích thích thần kinh như cà phê, chocolate, trà… đều phải kiêng.

– Hạn chế các sản phẩm từ sữa: Trong sữa có loại đường lactose rất khó tiêu. Ngoài ra, chất đạm của sữa có thể gây dị ứng cho bệnh nhân. Nên dùng sữa đậu nành để thay thế.

– Hạn chế mỡ: Tránh những thức ăn có hàm lượng dầu mỡ quá cao như các món chiên, xào, sốt.

Các loại thực phẩm cần ăn kiêng với 18 nhóm bệnh khác nhau - Ảnh 7

Ăn kiêng và ung thư

Người bị ung thư cần tăng cường dinh dưỡng, để tăng sức đề kháng. Ăn uống thích hợp, điều dưỡng hợp lý có thể làm tăng sức khỏe, kéo dài tuổi thọ. Ăn uống không thích hợp có thể làm bệnh nặng thêm. Vì vậy, người bệnh và gia đình biết được cần kiêng những gì là rất cần thiết.

Tám điều kiêng đối với người bị ung thư:

– Tránh ăn nhiều muối.

– Tránh ăn thực phẩm đã bị cháy.

– Tránh ăn thức ăn bị mốc.

– Tránh ăn thức ăn còn lưu thuốc sát trùng.

– Tránh uống rượu.

– Tránh ăn thức ăn nóng bỏng. 

– Tránh ăn dưa muối.

– Tránh ăn thức ăn nướng bằng than đá.

Y học cổ truyền khi chữa trị thường nhấn mạnh lý luận về trị liệu, đối với người bị ung thư việc kiêng cữ cũng có căn cứ lập luận, có nghĩa là đối với bệnh ung thư YHCT chia ra nhiều loại khác nhau như: chứng hàn, chứng nhiệt, chứng âm hư, chứng dương hư, chứng thấp nhiệt, chứng đàm thấp; thức ăn cũng có tính chất riêng như: lươn (mát), nhiệt (nóng), bổ, tá. Người bị chứng hàn nếu ăn thức ăn thiên về lương (mát) sẽ không có lợi cho bệnh tình.  Nói chung, người bị ung thư thuộc nhiệt thịnh, nên kiêng các thứ cay, nóng mạnh như hành, tỏi, ớt, quế, hoa hồi, quẩy rán.

– Người thuộc chứng thấp nhiệt thường biểu hiện bụng chướng, kém ăn, phân nát, miệng đắng, nước tiểu vàng có khi nôn ra mật vàng, phải kiêng loại thức ăn béo, các loại rượu, thức ăn ngọt, thịt mỡ, gừng sống, hồ tiêu, cá mắm, trai hến.

– Người thuộc chứng tỳ hư, phần nhiều mệt mỏi, miệng nhạt, kém ăn, tiêu chảy, trong phân còn thức ăn không tiêu, không nên ăn dưa hấu, bí đao, lê, mật ong, cua, ba ba, vịt, rùa.

– Người bị chứng âm hư, phần nhiều miệng khô, khát nước, sốt, ra mồ hôi trộm, lưỡi đỏ, nên kiêng thịt heo, thịt dê.

– Người bị chứng đàm tháp nên kiêng khoai lang, hải sâm, bã rượu.

Những nghiên cứu về ung thư cho thấy rằng người bị ung thư ăn nhiều thức ăn giàu chất mỡ như thịt mỡ đều không tốt, vì thức ăn giàu chất béo sẽ làm tăng thêm vi khuẩn yểm khí trong ruột, tạo thêm nhiều chất gây ung thư, cộng thêm ăn quá nhiều chất béo sẽ ảnh hướng đến ăn lượng rau cần thiết, dẫn đến táo bón khiến những chất gây ung thư tiếp xúc lâu với thành ruột, càng làm cho bệnh nặng thêm. Ngoài ra thức ăn giàu chất béo còn làm cho mức estrin trong máu tăng lên, có thể dẫn đến ung thư tuyến vú hoặc ung thư tử cung ở phụ nữ, nếu đã bị rồi thì càng nặng thêm.

Ăn kiêng và ung thư phổi

Ung thư phổi có liên quan tới không khí ô nhiễm, chứng nghiện thuốc lá và chế độ ăn uống. Người nghiện thuốc lá ngoài việc hấp thu chất độc của thuốc còn bị giảm lượng vitamin C trong cơ thể, khiến sức đề kháng sa sút. Chế độ ăn quá nhiều thịt và chất tanh, ít rau tươi cũng khiến lượng vitamin C đưa vào không đủ, dễ gây ra ung thư cục bộ ở hệ thống hô hấp. Vì vậy, nhiều nhà chuyên môn cho rằng kiêng kỵ ăn uống là yếu tố quan trọng trong quá trình điều trị ung thư phổi. Bệnh nhân ung thư phổi nếu có nhiều đờm trắng dạng bọt, dễ nhổ ra, kèm theo rêu lưỡi trắng, nhầy hoặc sợ lạnh thì nên kiêng ăn các món nhiều mỡ, hải sản, lạc, khoai lang.

– Trước hết, phải kiêng thuốc lá: Thuốc lá là thứ tân nhiệt, chứa những tạp chất độc hại như nicotin, gây ra sự kích thích xấu đối với phối và khí-phế quản, nhất là đối với những trường hợp đang ủ bệnh ung thư. Nó khiến niêm mạc đường hô hấp tăng tiết nhiều, đờm ngưng tích tụ không ngừng, đồng thời còn tăng thêm những chất gây ung thư. Vì đờm là chứng trạng chủ yếu dễ thấy nhất nơi người bệnh phổi, vì vậy có thể dựa vào màu sắc của đờm, độ đặc của đờm và có dễ khạc ra hay không để quyết định kiêng kỵ những thứ gì.

– Đờm trắng ở trạng thái bọt, dễ nhổ ra, kèm theo rêu lưỡi trắng và nhầy, hoặc sợ lạnh: Kiêng ăn các thứ dầu mỡ ngậy béo, quá bổ dưỡng như thịt mỡ, gà béo, vịt béo, tôm, cua, cá hồi, các hải sản tanh. Không uống các thứ lạnh, kiêng lạc, khoai lang vì chúng gây đờm, làm bệnh nặng thêm.

– Nếu đờm vàng, tương đối đặc, khó khạc nhổ, kèm theo rêu lưỡi vàng và nhầy: Nên chọn các thức ăn vừa hóa được đờm lại vừa có tác dụng thanh nhiệt như quả lê, đường phèn hầm củ cải, quả hồng… Kiêng ăn các thức ngậy béo, cay (hạt tiêu, bột hạt cải, bột cari, ớt, rượu), thức ăn hun khói, nướng, kiêng hồ đào, đậu phộng

– Nếu trong đờm có lẫn máu hoặc khạc ra máu: Ngoài việc kiêng kỵ nghiêm ngặt các thức trên, bệnh nhân còn phải kiêng các thức thô ráp và cấm dùng đồ chiên xào, nướng, quay, hun khói…

– Nếu thể chất hư nhược: Nên ăn uống các thứ ôn hòa, giàu dinh dưỡng mà dễ tiêu hóa như thịt heo nạc, thịt bò hầm, cháo hạt sen và ý dĩ.

Trong khi tẩm bổ cũng cần coi trọng vấn đề kiêng kỵ: Nếu bụng trướng, đại tiện lỏng, rêu lưỡi trắng và nhầy, phải dùng ít hoặc kiêng dùng sữa bò, đường, dưa muối, trái cây sống lạnh, dầu mỡ ngậy béo. Nếu miệng khát, người gầy, lưỡi đỏ, khạc ra máu thì cấm ăn các thức cay, động hóa, hại âm. Nếu người hư nhược đến độ phải dùng các thuốc bổ như nhân sâm thì cần kiêng ăn cải củ, uống trà đặc.

Người bị ung thư phổi đã xạ hoặc hóa trị nếu thấy chán ăn hoặc tiêu chảy thì nên ăn uống thanh đạm, dùng các thứ tươi mới, không có dầu mỡ, ăn thứ bổ vừa phải.

Nguồn tổng hợp