Các trường đại học Mỹ được đánh giá chất lượng ra sao?

Các trường đại học Mỹ được đánh giá chất lượng ra sao?

Du học Giáo dục Góc học tập

Nhưng thế vẫn chưa đủ, một cách thẩm định giá trị khác đã xuất hiện trong khoảng hơn 20 năm trở lại đây, đó là thông lệ xếp hạng hàng năm các ĐH.

Như đã đề cập trong phần trước, ở Mỹ có thông lệ đánh giá chất lượng đào tạo qua việc công nhận giá trị các đại học (ĐH) và chương trình đào tạo từ gần 60 năm nay.

Vấn đề xếp hạng các đại học Mỹ

Cơ quan thông tấn USNWR (US News & World Report) mở đầu việc xếp hạng các ĐH vào năm 1983. Sau đó một số cơ quan khác đã làm theo và tất nhiên với cách thức riêng của họ như Princeton Review, Fiske Guide to Colleges, Kiplinger’s Personal Finance, v.v. Nguyên là vào những năm 1980, cơ quan USNWR đã lao vào xuất bản định kỳ các bản tin theo dạng “News You Can Use” với ý định vừa thông báo vừa cung cấp cho độc giả các thông tin để có cơ sở quyết định các vấn đề trong cuộc sống. Việc chọn trường ĐH để nộp đơn xin theo học là một vấn đề rất quan trong đối với thanh niên vì nhiều lý do, chẳng hạn như trường nào mà sức học của mình có thể xin vào được, giá trị học thuật ở đó ra sao, tương lai có thành công trong nghề như mong muốn không, học phí và tổng chi phí ăn học một năm là bao nhiêu,…

Do đó USNWR nhận thấy cần phải cung cấp các thông tin so sánh giữa các trường để học sinh và gia đình biết mà lựa chọn. Thật ra đây là công việc mà các thầy hướng dẫn (guidance counselor) ở các trường trung học đã làm bấy lâu nay. Nhưng càng ngày   số học sinh càng đông, thông tin về các trường càng nhiều và sự cạnh tranh xin vào các trường ĐH càng gắt gao, các thầy hướng dẫn bị quá tải nên gia đình và bản thân các học sinh ngày càng trông đợi vào việc làm của USNWR. Việc xếp hạng các ĐH của USNWR và các cơ quan khác không những giúp cho các học sinh và gia đình có thông tin trong việc chọn trường để theo học mà còn làm cho bản thân các trường ĐH nhận ra trách nhiệm tự phấn đấu để nâng cao chất lượng đào tạo của mình.

Các trường đại học Mỹ được đánh giá chất lượng ra sao? - Ảnh 1

Cách xếp hạng các ĐH của USNWR

Một cách tổng quát, cơ quan USNWR đã xếp hạng cấp cử nhân của các ĐH Mỹ theo 3 bước sau đây:

Bước 1: Phân loại các trường thành các nhóm: Dùng cách phân loại Carnegie (Carnegie Classification) do Quỹ tài trợ Carnegie cho sự tiến bộ của việc giảng dạy thiết lập (Carnegie Foundation for the Advancement of Teaching) để phân chia hơn 1.400 trường ĐH đã được công nhận giá trị thành 4 nhóm tuỳ theo chức năng, văn bằng cấp phát cao nhất, chuyên ngành,… như sau:

  • Nhóm 1: Viện ĐH quốc gia – cấp tiến sĩ (National Universities-Doctoral).
  • Nhóm 2: ĐH cấp cử nhân tự do không chuyên nghề (Liberal Arts Colleges-Bachelor’s).
  • Nhóm 3: Viện ĐH – cấp cao học (Universities-Master’s).
  • Nhóm 4: ĐH tổng hợp cấp cử nhân (Comprehensive Colleges-Bachelor’s).

Hai nhóm 3 và 4 lại được chia theo 4 vùng lãnh thổ: Bắc, Nam, Trung Tây và Tây.

Bước 2: Thu thập dữ liệu: Với mỗi trường, các dữ liệu được thu thập theo 7 nhóm yếu tố (factor). Mỗi nhóm yếu tố có một trọng số (weight) tính theo phần  trăm. Một số nhóm yếu tố lại được chia nhỏ thành các yếu tố phụ hay chỉ số. Mỗi chỉ số có một trọng số phụ tính theo phần trăm. Tổng cộng có 16 chỉ số.

Bước 3: xếp hạng các trường: Với mỗi trường, tính tổng điểm có trọng số theo công thức: nhân điểm số của mỗi chỉ số trong mỗi nhóm yếu tố cho trọng số của nó rồi cộng lại để có điểm số của yếu tố ấy, rồi nhấn điểm số của mỗi yếu tố với trọng số của nó, sau cùng cộng lại theo tất cả các yếu tố, xếp hạng các tổng điểm này từ cao xuống thấp cho các trường trong cùng một nhóm và cùng trong một vùng. Các trường trong cùng một nhóm, cùng một vùng được xếp hạng theo thứ tự này.

Chi tiết quy trình xếp hạng

Để rõ hơn về cách xếp hạng này, đặc biệt thử xem người Mỹ đã coi những yếu tố nào cấu thành chất lượng đào tạo bậc ĐH của họ, ta lần lượt xem từng bước một trong quy trình xếp hạng của USNWR.

Bước 1: Phân nhóm trường: Các trường có ít hơn 200 sinh viên và các trường mà cấp cử nhân không tập trung vào các ngành truyền thông thì không xét đến. Hơn 1.400 trường đã được công nhận giá trị được phân thành 4 nhóm:

  • Nhóm 1: Viện ĐH quốc gia – cấp tiến sĩ: Đây là các trường có đầy đủ các chuyên ngành ở cấp cử nhân cũng như cao học – tiến sĩ. Các trường này nhấn mạnh về nghiên cứu (reseach university), gồm 249 trường trong đó có 167 trường công và 87 trường tư.
  • Nhóm 2: ĐH cấp cử nhân tự do/ KHXH&NV: Đây là các ĐH đa ngành cấp cử nhân và cấp phát ít nhất 50% số bằng cử nhân trong các ngành KHXH&NV (Liberal Arts). Gồm 218, trường trong đó có 21 trường công và 197 trường tư.
  • Nhóm 3: Viện ĐH – cấp cao học: Đây là các trường có đầy đủ các ngành cấp cử nhân và một số chương trình cấp cao học, có thể có một vài chương trình cấp tiến sĩ. Gồm 573 trường và được chia theo 4 vùng như sau:

                    + Miền Bắc: 170 trường (gồm 69 trường công và 101 trường tư)

                    + Miền Nam: 130 trường (gồm 72 trường công và 58 trường tư)

                    + Miền Trung Tay: 145 trường (gồm 56 trường công và 89 trường tự)

                    + Miền Tây: 128 trường (gồm 62 trường công và 66 trường tư)

Các trường đại học Mỹ được đánh giá chất lượng ra sao? - Ảnh 2

  • Nhóm 4: ĐH tổng hợp cấp cử nhân: Đây là các trường chủ yếu về cấp cử nhân trở xuống, cấp phát ít nhất 10% số bằng là cử nhân, và trong đó lại có ít hơn 50% là số bằng cử nhân không thuộc lĩnh vực KHXH&NV (Liberal Arts). Gồm 322 trường được chia theo 4 vùng như sau:

                    + Miền Bắc: 69 trường (15 trường công và 54 trường tư)

                    + Miền Nam: 104 trường (18 trường công và 86 trường tư)

                    + Miền Trung Tây: 110 trường (13 trường công và 97 trường tư)

                    + Miền Tây: 39 trường (8 trường công và 31 trường tư)

Ngoài ra, vì nhu cầu lớn về các ngành kinh doanh (business) và kỹ thuật (engineering) nên chương trình cấp cử nhân của hai ngành này được xếp hạng riêng gồm 3 nhóm như sau:

– Chương trình cấp cử nhân ngành kinh doanh: 350 trường

– Chương trình cấp cử nhân ngành kỹ thuật tại các trường có bằng Ph.D về kỹ thuật: 183 trường

– Chương trình cấp cử nhân ngành kỹ thuật tại các trường mà văn bằng cao nhất về kỹ thuật là cử nhân hay cao học: 139 trường

Bước 2: Các yếu tố và chỉ số: USNWR thu nhập dữ liệu theo 7 nhóm  yếu tố và chia nhỏ thành 16 chỉ số có trọng số. Trọng số phản ánh phán đoán của USNWR về tầm quan trọng tương đối của các yếu tố và chỉ số trong Chất lượng đào tạo

Với hai nhóm trường: Viện ĐH quốc gia – cấp tiến sĩ và ĐH cấp cử nhân KHXH&NV thì 7 nhóm yếu tố được đánh giá như sau:

Yếu tố 1: Đánh giá của các người cùng địa vị (peer Assessment) có trọng số 25%. Đây là đánh giá của các hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, trưởng ban tuyển sinh về các chương trình đào tạo cấp cử nhân của các trường cùng nhóm với trường của họ (không đánh giá trường của mình, chỉ đánh giá trường của người khác:) theo một thang điểm từ 1 (tệ nhất) đến 5 (xuất sắc). Ai không biết đủ rõ về một trường để đánh giá thì sẽ ghi là “không biết” thay vì cho điểm và sẽ không được kể để tính điểm trung bình. Điểm của một trường sẽ là điểm trung bình của tất cả những điểm của những người đã cho điểm. Trong các cuộc khảo sát các năm qua cho thấy có khoảng 64% số người đã cho điểm khi đánh giá các trường.

Yếu tố 2: Tính chất tuyển chọn sinh viên (student selectivity) có trọng số 15%. Yếu tố này được chia thành 4 chỉ số:

a. Tỉ lệ sinh viên (SV) được chon vào học (acceptance rate) có trọng số 15%. Đây là tỉ số giữa số SV được chọn vào học năm thứ nhất với số đơn xin.

b. Tỉ lệ đăng ký nhập học (yield) có trọng số 10%. Đây là tỉ số giữa số sinh viên tới đăng ký nhập học với số SV được nhà trường chấp nhận cho vào học (chỉ được đăng ký nhập học sau khi được chấp nhận cho vào học).

c. Vị thứ của học sinh ở trường trung học -10% trở lên: có trọng số 35%. Đây là tỉ số giữa số SV tới đăng ký nhập học mà có vị thứ từ 1 tới 10 % ở trường trung học với tổng số SV tới đăng ký nhập học.

d. Điểm thi SAT/ACT có trọng số 40% (2. xem ghi chú về SAT/ACT ở sau). Đây là điểm trung bình các bài thi SAT/ACT của tất cả những SV tới đăng ký nhập học, được đổi ra tỉ lệ phần trăm theo phân bố điểm của tất cả những người dự thi các bài thi ấy

Các trường đại học Mỹ được đánh giá chất lượng ra sao? - Ảnh 3

Yếu tố 3: Nguồn ban giảng huấn (Faculty resources) có trọng số 20% được chia thành 6 chỉ số như sau:

a. Mức đãi ngộ thầy dạy (faculty compensation) có trọng số 35%. Đây là lương trung bình và các phúc lợi hàng năm của một giáo sư đã được điều chỉnh theo giá mức sinh hoạt từng vùng. Giáo sư ở đây chỉ gồm những người làm việc toàn thời gian ở cả 3 hạng: Assistant Professor, Associate Professor và Full Professor (3. xem thêm phần ghi chú về giáo sư tại Đại học Mỹ ở sau)

b. Tỉ lệ phần trăm số thầy có bằng cấp cao nhất trong chuyên ngành (top terminal degree) có trọng số 15%, chỉ tính trong số thầy dạy toàn thời gian.

c. Tỉ lệ phần trăm số thầy dạy toàn thời gian có trọng số 5%. Đây là tỉ số giữa số thầy dạy toàn thời gian với tổng của số thầy dạy toàn thời gian và một phần ba số thầy dạy bán thời gian, (mẫu số gọi là tổng số giảng viên toàn thời gian tương đương: full-time equivalent faculty)

d. Tỉ lệ số SV/ giảng viên (student/ faculty ratio) có trọng số 5%. Đây là tỉ số giữa tổng số SV toàn thời gian tương với tổng số giảng viên toàn thời gian tương đương. Tổng số SV toàn thời gian tương đương là tổng của số SV toàn thời gian với một phần ba số SV bán thời gian.

e. Cỡ lớp từ 1 tới 19 SV: có trọng số 30%. Đây là tỉ lệ phần trăm của số lớp có sĩ số ít hơn 20 SV so với tổng số lớp.

f. Cỡ lớp từ 50 SV trở lên: có trọng số 10%. Đây là tỉ lệ phần trăm của số lớp có từ 50 SV trở lên so với tổng số lớp (4. xem thêm phần bình luận về cỡ lớp và chế độ TA tại ĐH Mỹ ở sau).

Yếu tố 4: Tỉ lệ tốt nghiệp và giữ được SV (graduation and retention rate) có trọng số 20%, được chia thành 2 chỉ số:

a. Tỉ lệ tốt nghiệp trung bình (average graduation rate) có trọng số 80%. Đây là tỉ lệ phần trăm một lứa SV năm thứ nhất tốt nghiệp trong vòng 6 năm, lấy trung bình cho vài lứa. (Chương trình cử nhân thường 4 năm)

b. Tỉ lệ giữ được SV trung bình (average freshman retention rate) có trọng số 20%. Đây là tỉ lệ phần trăm của số SV năm thứ nhất trở về trường để học vào mùa khai giảng năm kế tiếp, lấy trung bình cho vài lứa năm thứ nhất.

Yếu tố 5: Nguồn tài chính (financial resources) có trọng số 10%. Đây là chi phí trung bình bao gồm các chi phí cho giảng dạy, nghiên cứu, phục vụ, hỗ trợ học tập, điều hành và bảo trì mà nhà trường đã chi ra cho một sinh viên toàn thời gian cấp cử nhân trong một năm tài chính, lấy trung bình trong vài năm. Việc đánh giá này chỉ dành riêng cho sinh viên cấp cử nhân, nên kinh phí chỉ tính với phần tương ứng tỉ lệ với so sinh viên tương đương toàn thời gian của cấp cử nhân so với số SV cao học – tiến sĩ… Ngoài ra trị số trung bình này sẽ lại được đổi qua trị số logarit của nó để làm giảm bớt ảnh hưởng do sự cách biệt kinh phí nghiên cứu giữa các trường có nhiều với các trường có ít SV cao học – tiến sĩ.

Yếu tố 6: Sự đóng góp của cựu sinh viên (alumni giving) có trong số 5%. Đây là tỉ lệ phần trăm của số cựu sinh viên đã nhận bằng cử nhân gởi tiền tặng cho ngân sách của nhà trường trong một năm tài chính, lấy trung bình trong vài năm. Số sinh viên này không bao gồm các cựu sinh viên chỉ lấy bằng cao học hay tiến sĩ mà không lấy bằng cử nhân ở trường (5. xem thêm ghi chú về sự đóng góp này ở sau).

Yếu tố 7: Mức hoàn thành tỉ lệ tốt nghiệp (graduation rate performance) có trọng số 5%. Đây là hiệu số giữa tỉ lệ tốt nghiệp thật sự của một lứa SV năm thứ nhất trong vòng 6 năm với tỉ lệ tốt nghiệp dự báo dựa trên đặc điểm của lứa SV và tài nguyên nhà trường dành cho việc đào tạo. Nếu tỉ lệ tốt nghiệp thật sự cao hơn tỉ lệ dự báo thì chứng tỏ nhà trường đã nỗ lực nâng cao thành tích của mình.

Đối với hai nhóm trường: Viện ĐH – cấp cao học và ĐH tổng hợp cấp cử nhân thì chỉ có 6 nhóm yếu tố từ 1 tới 6 mà không có nhóm 7 (xem như có với trọng số bằng 0). Do đó phải có sự điều chỉnh trọng số như sau: trọng số 5% của nhóm 7 được thêm vào cho trọng số của nhóm yếu tố 4 để nhóm này, tức là nhóm Tỉ lệ tốt nghiệp và giữ được sinh viên bây giờ có trọng số là 25% (trước là 20%). Ngoài ra, trong nhóm yếu tố 2: Tính chất tuyển chọn sinh viên thì vị thứ top 10% ở trường trung học được thay bởi top 25%.

Các trường đại học Mỹ được đánh giá chất lượng ra sao? - Ảnh 4

Bước 3: Xếp hạng: Sau khi tính tổng điểm có trọng số của môi trường và xếp các tổng điểm này trong từng nhóm trường, trong từng vùng theo thứ tự giảm dần. Trường có điểm cao nhất trong nhóm là trường có thứ hạng 1. Tổng điểm của trường này được gán cho giá trị 100. Tổng điểm của các trường còn lại trong nhóm được tính là tỉ lệ phần trăm của tổng điểm của trường của trường có thứ hạng 1, nghĩa là: 100 x (tổng điểm của trường đang xét)/ (tổng điểm của trường có thứ hạng 1). Tiếp đến làm tròn thành số nguyên gần nhất. Sau cùng xếp hạng theo thứ tự giảm dần. 

Để đạt được quy trình xếp hạng chi li này, USNWR đã trải qua quá trình lâu dài với sự góp ý của rất nhiều nhà giáo dục và các trường ĐH. Từ năm 1983 tới năm 1987, USNWR chỉ dựa vào sự nổi tiếng của các trường mà xếp hạng. Sau đó mới đưa các dữ liệu định lượng vào và điều chỉnh dần dần các chỉ số cũng như các trọng số. Tất nhiên, không phải mọi người đều nhất trí với cách xếp hạng của USNWR cũng như của nhiều tổ chức khác. Thế nhưng, nhìn vào các bảng xếp hạng này (của USNWR là America’s Best Colleges có sẵn miễn phí tại website www.usnews.com), theo dõi các chỉ số của các trường, các học sinh và gia đình tự lượng sức mình và biết nên nộp đơn vào các trường nào.

Phần ghi chú và bình của tác giả

1. Về từ “quốc gia” (national) trong nhóm trường Viện ĐH quốc gia – cấp tiến sĩ. Từ quốc gia này khác với từ quốc gia trong hai ĐH Quốc gia Hà Nội và TPHCM của ta. Nhà nước Mỹ cũng như bản thân các Viện ĐH này không phong cho họ từ “quốc gia”, mà chỉ các đồng nghiệp của họ và các cơ quan độc lập đánh giá chất lượng đào tạo đã gán cho họ dựa trên tầm cỡ chương trình, thành tích giảng dạy và nghiên cứu mà họ đã đạt được qua một quá trình xây dựng lâu dài.

Với từ “quốc gia” này, họ không có được ưu tiên nào hơn các ĐH khác, ở ta thì từ “quốc gia” được nhà nước xác lập qua một quyết định thành lập với mục đích tốt đẹp là để xây dựng hai trường ĐH mạnh nhất nước, nâng cao chất lượng đào tạo cán bộ khoa học chủ chốt cho đất nước ngang tầm với ĐH của các nước khác. Tuy nhiên, ý đồ đúng và tốt đẹp ấy tới nay vẫn chưa thực hiện được đúng mức. Lý do có lẽ là tại ta đã làm một phép cộng đơn giản thay vì phải làm một phép tích hợp công phu.

Chúng ta đã ghi tên một số ĐH lớn làm thành viên của ĐH Quốc gia mà vẫn giữ nguyên ban bệ bên trong mỗi ĐH thành viên như cũ, với nề nếp hoạt động như cũ, biên giới giữa các ĐH thành viên vẫn cứng nhắc như cũ, và chỉ tạo ra một thượng tầng quản lý bao trùm lên trên các thành viên mà thôi. Như thế, không những chất lượng đào tạo không cao hơn trước mà còn tốn kém hơn vì sự có mặt cái thượng tầng quản lý ấy. Một bằng chứng cụ thể là một số ĐH thành viên sau một thời gian đã xin ra. Ý đồ tốt đẹp ấy chỉ có thể hình thành dần dần trong một quá trình tích hợp sức mạnh riêng của tất cả các thành viên để tạo ra sức mạnh tổng hợp chung.

Phải nhào nặn lại các ban bệ bên trong các thành viên để thành ban bệ mới của ĐH Quốc gia, gộp các thứ gần giống nhau từ các thành viên lại thành cái chung, loại bỏ các phân dư thừa, mềm hoá biên giới giữa các thành viên, sử dụng chung các tài nguyên, chương trình phải được thiết kế lại cho thật uyển chuyển cốt sao cho sinh viên được chọn chuyên ngành đúng sở trường qua một quá trình sàng lọc. ĐH Quốc gia là phải chú trọng chất lượng, đào tạo tinh hoa để cung cấp các chuyên viên ưu tú cho đất nước nên phải lựa chọn sinh viên kỷ hơn, hạn chế quy mô để đủ điều kiện đào tạo chất lượng cao, không thể bung ra theo kiểu từ xa, liên kết với các địa phương, luyện thi đủ thứ khiến cho quy mô lên tới vài chục ngàn SV/ trường ĐH.

Ta không thể so bì với người vì hoàn cảnh khác nhau, nhưng cũng nên biết là sau hàng trăm năm thành lập và phát triển mà các ĐH được gán cho là quốc gia và thuộc loại hàng đầu của Mỹ có quy mô rất nhỏ, có thể nhỏ hơn bất cứ ĐH dân lập nào mới thành lập vài năm ở ta. Chẳng hạn, hiện nay ĐH Caltech chỉ có tổng cộng khoảng 1.000 SV cấp cử nhân và 1.000 học viên cấp cao học – tiến sĩ; ĐH Princeton chỉ có khoảng 5.000 SV cấp cử nhân và 2.000 học viên cao học – tiến sĩ; ĐH Columbia mỗi năm chỉ tuyển vào khoảng hơn 300 SV năm thứ nhất vào ngành kỹ thuật; ĐH Harvard tuyển khoảng 1.600 sinh viên vào năm thứ nhất…

2. Về SAT/ACT: Bài thi mà các ĐH từ hạng khá trở lên yêu cầu các ứng viên xin nhập học phải thi như là một phần của hồ sơ xin nhập học.

Các trường đại học Mỹ được đánh giá chất lượng ra sao? - Ảnh 5

3. Về giáo sư ở Đại học Mỹ: Các giáo sư ở ĐH Mỹ gồm 3 hạng: Assistant Professor, Associate Professor và Full Professor. Một người có bằng tiến sĩ được tuyển vào làm cán bộ giảng dạy ở ĐH thì ban đầu có chức danh là Assistant Professor có thể dịch là giáo sư trợ lý, nhưng thật ra họ giảng dạy độc lập chứ không phụ tá ai cả). Trong vòng từ 4 tới tối đa là 7 năm họ sẽ được xét thành tích giảng dạy và nghiên cứu. Nếu thoả mãn các điều kiện của nhà trường thì họ sẽ được thăng lên thành Associate Professor (phó giáo sư), nếu trái lại thì xin mời ra khỏi trường.

Một Associate Professor có nhiều thành tích giảng dạy và nghiên cứu thì có thể được xét để nâng lên Full Professor (giáo sư) sau một số năm, nhưng cũng có lắm vị đến khi về hưu vẫn chưa lên được Full Professor. Khi đã là Associate Professor và nếu lại được là “tenure” tức là được quyền làm việc mà khỏi phải ký hợp đồng trở lại (như đã vào biên chế chính thức ở ta) chỉ trừ khi làm cái gì quá bậy thì mới bị “mời ra”. Chính vì vậy cũng có lắm thầy sau khi đã được “tenure” rồi thì “tà tà” không còn năng nổ nghiên cưu nữa. Cái này ở họ cũng có nhiều người giống ở ta thôi.

4. Về chế độ trợ giảng (Teaching As sistant – TA) ở ĐH Mỹ: Một giáo sư (từ Assistant tới Full Professor) thường mỗi tuần chỉ dạy 2 lớp, mỗi lớp 3 giờ chia làm 2 lần 80 phút/lần hay 3 lần 50 phút/lần. Bài tạp ra về nhà mà sinh viên phải nộp hàng tuần hay 2 tuần thì được các trợ giảng chấm và vào lớp chữa bài tập, khoảng từ 15 tới 20 sinh viên thì có một trợ giảng. Các TA này là các sinh viên được học bổng (miễn đóng học phí và được thêm từ khoảng 12.000 tới 24.000 đôla/năm tuỳ trường) để theo học chương trình cao học – tiến sĩ. Chế độ TA này có một số ưu điểm mà tôi đề nghị ta nên áp dụng, đặc biệt tại hai ĐH Quốc gia Hà Nội và TPHCM.

Thứ nhất: Giúp cho các giáo sư có nhiều thì giờ để làm nghiên cứu vì khỏi phải làm cái việc rất mất thì giờ là chấm bài.

Thứ hai: Nhờ có TA chấm bài mà thầy ra bài tập thường xuyên về nhà buộc SV phải làm và nộp hàng tuần từ đầu học kỳ tới cuối học kỳ. Như thế SV bắt buộc phải học, tham khảo tài liệu, học hỏi lẫn nhau một cách siêng năng đều đặn ngay từ đầu học kỳ đến cuối học kỳ theo tiến độ mà thầy yêu cầu. Bài tập lại được chấm trả lui. Có sẵn người chấm nên thầy còn cho làm bài tại lớp, rồi bài thi giữa học kỳ và bài thi cuối học kỳ. Đó chính là cơ chế làm cho mọi SV đất được ít nhất là cái mức trình độ tối thiếu để có thể nhẹ nhàng vượt qua kỳ thi cuối khoá.

Hơn nữa, điểm cho được khá chính xác vì căn cứ trên nhiều phần, nhiều lần làm bài khác nhau, ở ta thì thấy vừa dạy lớp đông SV, vừa dạy nhiều lớp, nhiều nơi (đó là nhu cầu cổ thực từ cả hai phía nhà trường và thầy), không ai chạm bài giùm cho nên dù thầy cố tâm huyết cũng khó lòng chấm nổi hết bài, cho nên không thể ra bài tập về nhà và buộc SV làm và nộp. Chỉ có bài thi cuối khoá thôi và nhiều thầy cô cũng quá bận không chấm kịp nộp cho nhà trường theo đúng thời gian quy định. Có khi gần hết học kỳ II mà thầy cô chưa nộp điểm một số môn ở học kỳ I, làm khó cho phòng đào tạo và gây không ít trở ngại cho nhà trường.

Nhưng cái tệ hại nhẫt do cái cung cách không làm bài tập để nộp trong suốt học kỳ là làm cho SV mất đi cái phong cách học tập nghiêm túc, học mà thiếu hành, cứ để bài vở dồn lại đấy đến sắp thi học kỳ thì mới đâm đầu vào học ngấu nghiến cốt để “trả nợ quỷ thần” trong giờ thi. Học thế thì thi xong là quên ngay, chẳng tích luỹ được kiến thức gì bởi vì thiếu hẳn sự điều chỉnh kiến thức thông qua quá trình tìm tòi suy nghĩ để làm bài tập và được chữa bài tập. Học mà thiếu hành chính do đó mà ra và chất lượng đào tạo kém cũng là tại đó. Chưa hết, không học nghiêm túc từ đầu học kỳ, dồn lại nhiều quá, học không xuể để thi cho nên phải dùng đến các chiêu “cóp, phao”.

Cũng chưa hết, vì chỉ căn cứ vào một bài thi cuối khoá mà cho điểm môn học nên khó có thể phản ánh đúng cái thực học của sinh viên, nhất là có làm khi chẳng học hành gì cả mà nhờ cách ra đề thi của thầy với việc “cóp kiếc, phao phiếc” thì lại được điểm cao. Từ đó thấy học ĐH sao mà dễ quá và ra đời cũng sẽ làm theo phong cách thiếu nghiêm túc như thế. Chức vụ nào cũng đã có người có đủ tiêu chuẩn bằng cấp, có khi vài ba bằng nữa là khác, mà lắm khi không làm được việc và các người trẻ tuổi có thực học thực tài lại không chỗ làm.
Các trường đại học Mỹ được đánh giá chất lượng ra sao? - Ảnh 6

Thứ ba: Chế độ TA làm cho các người trẻ, có tài mà nghèo vẫn có cơ hội học lên cấp tiến sĩ. Hiện nay, Bộ giáo dục và đào tạo và TPHCM có chu trương cấp học bổng cho hàng trăm người đẫ vượt qua được một kỳ thi để đi học ở nước ngoài lấy bằng Master hay Ph.D. Nếu ta khéo tổ chức thì có thể khá nhiều người trong số này giành được học bổng làm TA tại các ĐH Mỹ để nhà nước ta khỏi tốn mất vài chục nghìn đôla mỗi năm cho mỗi người, vấn đề là phải chọn được các người trẻ, tốt nghiệp cử nhân loại giỏi (cỡ top 5%) và giỏi tiếng Anh (thi TOEFL ít nhất phải 550 điểm trở lên) và phải hướng dẫn họ chọn đúng trường. Trong quá khứ cũng như hiện này, các ĐH Mỹ thu nhận hàng năm khá nhiều TA từ các nước Đông Âu, Ấn Độ, Trung Quốc, Đài Loan,… đặc biệt là các ngành khoa học, kỹ thuật.

So ra thì có quá ít sinh viên từ Việt Nam tới làm TA. Có lẽ tại sinh viên nước ta chưa có nhiều người biết rõ đường đi. Tôi đề nghị Bộ giáo dục và đào tạo lạm một điều tra trong 249 trường cấp tiến sĩ ở Mỹ, trường nào tuyển TA về các ngành phù hợp với hướng đào tạo nhân lực của ta, phổ biến cho các SV ưu tú để chuẩn bị ngay từ năm thứ nhất, sao cho vào cuối năm thứ ba phải thị TOEFL được ít nhất 550 điểm trở lên, chuẩn bị thi GRE, GMAT,… vào năm thứ tư để kịp nộp đơn ngay khi vừa tốt nghiệp cử nhân. Làm điều tra thêm xem ở các trường đại học ấy có những ai là giáo sư gốc Việt, để nhờ hương dẫn. Tôi nghĩ họ sẵn sàng giúp đỡ các bạn trẻ của ta với điều kiện là các bạn thật sự có khả năng học tập.

Thứ tư: Cái lợi sau cùng của chế độ TA là giúp đào tạo được đội ngũ thầy giáo bậc ĐH. Trong quá trình làm TA từ 3 tới 5 năm để lấy bằng tiến sĩ, các TA đã thực tập việc giảng dạy, đã tóm thâu được cái tui bài tập mà nhiều giáo sư đã đầu tư thì giờ soạn ra, cái kinh nghiệm mà các giáo sư đã điều tiết giữa lý thuyết và thực hành của môn học, rút được nhiều kinh nghiệm trong việc xử lý các tình huống trong lớp với SV,… Cho nên khi có bằng tiến sĩ thì họ đã có thể khá vững vàng trong việc giảng dạy.

5. Sự đóng góp của cựu SV: Các cựu sinh viên, nhất là các người đã thành đạt, luôn luôn nhớ về mái trường xưa, sẵn sàng giúp đỡ các thế hệ SV đàn em dưới mọi hình thức – từ tạo cơ hội thực tập, tuyển dụng, ký kết các hợp đồng nghiên cứu với nhà trường đến việc gởi tiền tặng vào ngân sách đào tạo của nhà trường. Đó là cái truyền thống tốt đẹp của hầu hết các trường trên thế giới. Đặc biệt ở Mỹ, người Phó hiệu trưởng phụ trách phát triển. Có nhiệm vụ làm tăng ngân sách cho nhà trường. Hàng năm, với chiến dịch “Đàn anh cho đàn em” (Generation to Generation) họ đã gởi thư đến mọi cựu SV để xin tiền.

Tuỳ hoàn cảnh, có người cho nhiều, có người lập hẳn một Quỹ tài trợ riêng, có người cho ít và tất nhiên cũng có người không cho. Nhưng nói chung đấy là một sự đóng góp khá lớn đủ để cho hàng ngàn học bổng. Chẳng hạn, trong năm học 2001-2002, các cựu SV của MIT đã gởi về tặng trường 33,1 triệu đôla; các cựu sinh viên của University at Buffalo đã tặng trường 88,9 triệu đôla. Ở ta chưa có truyền thống này, chỉ có lẻ tẻ với tính cách tự phát mà thôi. Thậm chí ta cũng chưa có Hội cựu SV một cách chính thức cho từng trường ĐH, mà chỉ có các Ban liên lạc tạm thời cần trong các dịp làm lễ kỷ niệm 10 năm, 20 năm,… thành lập trường.

Các dịp này ta lại làm rất to, được đưa lên mọi phương tiện truyền thông đại chúng, và rất tốn tiền cho nhà trường, cho địa phương và cho cả Bộ giáo dục và đào tạo. Nói cho đúng ra thì các cựu SV trong các dịp này cũng có người đóng góp cho nhà trường, nhưng có lẽ không bù nổi chi phí tổ chức. Các dịp này được tổ chức, ngoài cái nhu cầu tình cảm trở lại trường xưa gặp gỡ bạn bè cho thoả bấy lâu xa cách, thì hầu như là cốt tổng kết thành tích đã đào tạo được bao nhiêu cử nhân, cao học, tiến sĩ, họ đã giữ những vai trò quan trọng nào,… nhà trường đã được các huân chương gì,… để có thể tự hào với thiên hạ và cũng có thể lại được huân chương cao hơn, chứ chưa nghĩ đến cơ hội để đàn anh thiết thực giúp đỡ đàn em.

Tôi thử làm con tính đơn giản. Một trường có khoảng 50.000 cựu SV (rất nhiều trường ĐH của ta kỷ niệm 20, 30, 40 năm thành lập có tổng kết hơn 50 nghìn cựu SV), mỗi người gởi cho tối thiểu trung bình 100.000 đồng/năm thì sơ sơ cũng có được 5 tỉ/năm. Số tiền này mà đem cấp học bổng thì đã có hơn 1.650 sinh viên nghèo được mức học bổng 3 triệu đồng/năm là tốt biết bao nhiêu cho tiền đồ khoa học nước nhà. Ta không những đã chưa làm như thế mà trong việc làm kỷ niệm thành lập các trường ĐH ở Huế và TPHCM lại tính tuổi các trường này chỉ từ năm 1975 đến nay!

Rất nhiều cựu sinh viên đã từng học ở những nơi ấy trước 1975 hiện đang đóng góp công sức trong hầu hết các lãnh vực văn hoá, kinh tế, khoa học, kỹ thuật, giáo dục,… ở nhiều tĩnh thành nước ta… Với cách tính tuổi các ĐH như thế thì những cựu sinh viên này tìm đâu thấy mái trường xưa, một cõi tình cảm, huống chi là để có dịp làm cái nghĩa cử giúp đỡ đàn em.

Nguồn tổng hợp