Trên con đường vạn lý trường chinh của Hồng quân công nông Trung Quốc

Trên con đường vạn lý trường chinh của Hồng quân công nông Trung Quốc

Giáo dục Góc học tập Sự kiện trong tuần Văn hóa Xã hội

Tuyến chính của Hồng quân sau 14 tháng trời hành binh, vượt qua 2 vạn 5 ngàn dặm trên địa phận 11 tỉnh đã thực hiện cuộc rút lui chiến lược.

Mao Trạch Đông và Tưởng Giới Thạch từng giao tranh hơn nửa thế kỷ, trong đó cuộc vạn lý trường chinh của Hồng quân công nông Trung Quốc là một nước cờ ngoạn mục. Từ Nam lên Bắc, để lập căn cứ đẩy Bạch quân của Tưởng Giới Thạch ra khỏi Hoa lục, dồn về hòn đảo Đài Loan với thế cục như ngày hôm nay. Điều đáng nói nữa, là trên con đường hành quân vạn dặm đó, tại Hội nghị Tuân Nghĩa – tỉnh Quý Châu (tháng 1 năm 1935) vai trò lãnh đạo của Mao Trạch Đông được xác lập, ông trở thành chủ soái cho đến tận ngày tạ thế (9/9/1979)…

Trước khi lên đường, Mao bị Đảng bài xích

Sau khi đánh bại cuộc “vây tiễu” lần thứ ba của Tưởng Giới Thạch, khu căn cứ cách mạng Nam Giang Tây và Tây Phúc Kiến nối liền thành một dải. Khu căn cứ trung ương do Đảng cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) chiếm lĩnh đã có 21 huyện thành, 2,5 triệu dân và rộng 5 vạn cây số vuông. Thời ây, Tưởng Giới Thạch tạm thời chưa hành binh “tiễu Cộng”, khu căn cứ của Mao Trạch Đông tương đối hoà bình, ổn định. Ngày 7/11/1931, nhân kỷ niệm Cách mạng tháng Mười Nga, tại Thụy Kim – tỉnh Giang Tây, thủ phủ của Xô viết, trung ương tuyên bố thành lập Nước cộng hòa Xô viết Trung Hoa và khai mạc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ nhất Xô viết công nông binh Trung Hoa với sự tham gia của hơn 600 người.

Trên con đường vạn lý trường chinh của Hồng quân công nông Trung Quốc - Ảnh 1

Đại hội thông qua Đề cương Hiến pháp Xô viết Trung Hoa do Chu Ân Lai và một số người khác khởi thảo ở Thượng Hải, xác định mô hình mới của nhà nước chuyên chính dân chủ công nông do ĐCS lãnh đạo, đối lập với chính phủ Dân quốc mà Chủ tịch là Tưởng Giới Thạch. Và cũng khá lý thú là Đại hội lần này đã bầu Mao Trạch Đông làm Chủ tịch Nước cộng hòa Xô viết Trung Hoa, Phó chủ tịch là Hạng Anh (1898-1941), Trương Quốc Đào (1897-1979). Nhưng trớ trêu thay, cũng năm 1931, đoan đại biểu trung ương ĐCSTQ do Hội nghị trung ương 4 khoá 6 phái đến khu Xô viết chủ trì Hội nghị Cán Nam (miền Nam Giang Tây) kiểm điểm toàn bộ công tác Đảng ở đây thì Mao Trạch Đông bị chỉ trích là “kinh nghiệm hẹp hòi”, “đường lối phú nông” và nghiêm trọng hơn nữa, “chủ nghĩa cơ hội hữu khuynh”.

Hội nghị quyết định bãi miễn chức vụ quyền Bí thư trung ương cục khu Xô viết, Tổng chính ủy Hồng quân, Bí thư quân ủy tiền phương của Mao Trạch Đông, ông chỉ còn chuyên làm công việc “chính phủ”. Nhìn thấy “ngọn lửa nhỏ” ngày một “thiêu cháy đồng cỏ”, Tưởng Giới Thạch tập trung rèn cán chỉnh quân, triệu tập huấn luyện bộ binh tại Lư Sơn. Đợt huấn luyện chia ra 2 giai đoạn, mỗi giai đoạn 9 tuần lễ và hơn 7.000 sĩ quan đã tốt nghiệp khoá học này. Tưởng Giới Thạch thân hành giảng bài 25 lần, nội dung biên tập thành “Sổ tay tiễu phỉ”. Trong quá trình huấn luyện, Tưởng Giới Thạch mời 70 nhà quân sự nước ngoài, trong đó có nguyên Tổng tư lệnh quân đội Đức, làm cố vấn và hoạch định cho ông chiến thuật “vây tiễu” lần thứ năm.

Phía Hồng quân lúc này do Bác Cổ (tức Tần Bang Hiến, 1907-1946) cầm đâu cũng đã mời chuyên gia quân sự ngươi Đức là Ottó Braun (1901-1974) làm cố vấn. Ông này có tên chữ Hán là Lý Đức. Năm 1914 khi Thế chiến thứ nhất bùng nổ, cậu bé Braun vừa đúng 14 tuổi, nhập ngũ làm tiểu binh trong quân đội Đế quốc Áo – Hung thì cố vấn quân sự của Tưởng Giới Thạch đã là Tổng tham mưu trưởng lục quân Đức. Bác Cổ suy tôn một chuyên gia quân sự “đàn em” như Lý Đức làm chủ soái, giao cho ông ta lãnh đạo chiến lược, chiến thuật, mặc dầu Quốc tế cộng sản đã có lời can gián.

Cuối năm 1933, Tưởng Giới Thạch thân hành làm Tổng tư lệnh cuộc “vây tiễu” tiêu diệt ĐCSTQ lân thứ năm với phương châm “ba phần quân sự, bảy phần chính trị”, phong toả kinh tế khu Xô viết trung ương và thực hiện chiến thuật công sự lô-cốt đánh vào trung tâm.Tưởng Giới Thạch điều động gần một triệu binh lực cho cuộc chiến. Lúc này khu Xô viết trung ương cùng Phúc Kiến, Triết Giang, Giang Tây nối liền một dải có 3 triệu dân và 8 vạn  Hồng quân, nhân dân rất ủng hộ ĐCSTQ, ủng hộ cách mạng.Trên con đường vạn lý trường chinh của Hồng quân công nông Trung Quốc - Ảnh 2

Nhưng người phụ trách trung ương lâm thời ĐCSTQ khi ấy là Bác Cổ hầu như giao mọi quyền hành cho Lý Đức, nhà quân sự nước ngoài này chỉ có kinh nghiệm trận địa chiến hồi Thế chiến thứ nhất mà không hiểu gì về những đặc điểm cụ thể của chiến tranh cách mạng TQ, không tiếp thu phương châm phòng ngự tích cực của 4 lần phản “vây tiễu” trước đây. Lý Đức đưa ra khẩu hiệu sai lầm “không để mất một tấc đất của khu căn cứ”. Ông chủ trương “ngự địch bên ngoài quốc môn” và lệnh cho Hồng quân hành binh lên phía Bắc nghênh chiến. Kết quả là chủ lực của Hồng quân đã bị kẹt giữa các lô-cốt phe địch và lâm vào thế “hổ ly sơn”.

Khi gặp nguy cơ, Lý Đức dao động, phòng ngự tiêu cực, mong dùng trận địa chiến thay cho du kích chiến và vận động chiến, do đó Hồng quân càng ngập trong bãi lầy. Giữa lúc ấy, lộ quân thứ 19 của Quốc dân đảng (QDĐ) tuyên bố phản chiến, thành lập ở Phúc Kiến Chính phủ cách mạng nhân dân do Lý Tế Thâm làm Chủ tịch, chủ trương kháng Nhật chống Tưởng, cử đại biểu gặp Hồng quân đàm phán họp tác. Bác Cổ cự tuyệt ý kiến của Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai, Trương Văn Thiên (trong phim Trường chinh thường gọi bí danh Lạc Phủ, 1900-1976), Bành Đức Hoài… và cho rằng phái trung gian, lộ quân thứ 19 này chính là “kẻ thù nguy hiểm nhất”, là “lừa dối quần chúng”, cuối cùng chối bỏ lời đề nghị hợp tác của Lý Tế Thâm.

Trước tình hình nguy kịch, tuy bị bài xích, Mao Trạch Đông vẫn đề xuất kế sách: chủ lực Hồng quân nên đột phá tiến về Triết Giang, sau đó đánh ra Hàng Châu, Tô Châu, Nam Kinh, Vu Hồ, Nam Xương, Phúc Châu… Chuyển chiến lược phòng ngự sang tấn công, uy hiếp hậu phương của Tưởng, ủng hộ chính phủ Lý Tế Thâm. Bác Cổ cùng Lý Đức đều gạt phăng, Mao luyến tiếc than: “Kế này không dùng thì làm sao phản kích nổi cuộc vây tiễu thứ năm và chính phủ Phúc Kiến hẳn sớm tan rã”. Quả vậy, sau khi dẹp yên Lý Tế Thâm, Tương Giới Thạch điều binh bịt kín khe hở Giang Tô, Triết Giang, An Huy, Phúc Kiến, siết chặt vòng vây khu Xô viết trung ương, tập trung toàn lực chọc thẳng trung tâm.

Thượng tuần tháng 4 năm 1934, quân Tưởng đánh chiếm Quảng Xương – cánh cửa phía Bắc của khu Xô viết trung ương. Bác Cổ và Lý Đức bất chấp tình hình tương quan lực lượng địch mạnh ta yếu vẫn quyết định tử thủ, nhưng sau 18 ngày tắm máu, Quảng Xương rơi vào tay Tưởng. Đến hạ tuần tháng 9, khu Xô viết trung ương chỉ còn lại vài huyện thành, khả năng phá vòng vây là rất khó khăn. Mao Trạch Đông lại đề xuất cho Hồng quân tiến xuống miền Hồ Nam, nơi chưa có công sự lô-cốt của Tưởng, dụ địch từ Giang Tây về đây để tiêu diệt chúng. Nhưng Bác Cổ và Lý Đức lại lần nữa cự tuyệt. Mao Trạch Đông than: “Thế là hết hy vọng phản tiễu, chỉ còn mỗi con đường trường chinh di chuyển…”.

Trên con đường vạn lý trường chinh của Hồng quân công nông Trung Quốc - Ảnh 3

Trường chinh, “tổ ba người” giữ kín cho tới phút chót

Rút khỏi khu Xô viết trung ương là cả một vấn đề hệ trọng của Hồng quân và ĐCSTQ, ấy vậy mà Bác Cổ và Lý Đức cứ nhất mực giấu kín, mãi đến ngày ra đi mới hạ lệnh thực hiện do “tổ ba người" gồm Bác cổ, Lý Đức và Chu Ân Lai chủ trì. Bác Cổ giữ vai trò chỉ huy chính trị, Lý Đức chỉ huy quân sự, còn toàn bộ công tác hậu cần giao cho Chu Ân Lai. “Tổ ba người” có quyền quyết định ai ở ai đi, và Mao Trạch Đông – Chủ tịch Cộng hoà Xô viết Trung Hoa suýt nữa thì… nằm ngoài danh sách trường chinh. Bác Cổ và Lý Đức không xem việc phá vòng vây là một chiến dịch có tính chiến lược mà hình dung nó như chuyện “dọn nhà”, tổ chức thành 2 tung đội trung ương và quân ủy bao gồm 9.000 nhân viên, lại điều động thêm 5.000 dân công địa phương để khuân vác cho kỳ hết “nồi niêu soong chảo”, từ cái máy chữ tới cỗ máy tiện nặng hàng chục người khiêng.

Ngay 10 tháng 10 năm 1934, năm quân đoàn Hồng quân biên chế theo số hiệu 1,3,4,5,8 và 9 cùng hai tung đội cơ quan trung ương và quân ủy, tất cả hơn 86 ngàn người hành quân về mạn Tương Tây (miền Tây tỉnh Hồ Nam) để hội sư với quân đoàn 2 và 6 đóng ở Tương Ngạc Tây (vùng biên giới của hai tỉnh Hồ Nam và Hồ Bắc). Đội hình hệt như “dỏng đạo” ngày xưa, quân đoàn 1 tiên phong cánh tả, quân đoàn 3 tiên phong cánh hữu, quân đoàn 9 yểm  hộ trái, quân đoàn 8 yểm hộ phải, quân đoàn 5 hậu vệ, chính giữa là tung đội trung ương và quân ủy. Gần chục vạn người vượt núi trèo đèo, uốn lượn như một con rắn khổng lồ trên vùng đất Giang Nam.

Ngày 15 tháng 10, Mao Trạch Đông còn ở lại Giang Tây, tạ ơn nhân dân khu căn cứ và dặn dò 200 cán bộ nằm vùng. Đêm 18, ông cùng Trương Văn Thiên và Vương Gia Tường (1906-1974) mới đuôi kịp đoàn trường chinh tại cầu phao Vu Đô. Ngày 16 tháng 10, nhận được điện khẩn về Hồng quân, Tưởng Giới Thạch và Tống Mỹ Linh vội đáp máy bay từ Bắc Kinh xuống Nam Xương triệu tập ngay hội nghị quân sự, Tưởng tuyên bố: “Dù cho Cộng quân rút đi đâu, Đông Bắc Tây Nam, miễn là ra khỏi Cán Mân (Giang Tây, Phúc Kiến) thì đã trừ được họa tâm phúc của ta rồi. Nhưng chúng đi theo con đường nào thì cũng không thoát nổi tay này, thời cơ tiêu diệt cộng sản đã điểm!”.

Nguồn tổng hợp